Kinh tế vĩ mô & Tiền tệ ~26 phút đọc

Khủng hoảng tài chính châu Á 1997: Khi cơn say tăng trưởng kết thúc bằng cú sụp đổ

Thế giới tài chính vốn vận hành theo một quy luật vô cùng tàn nhẫn khi bạn say xưa nhất trong chiến thắng, đó chính là lúc mà lưỡi hái tử thần kề sát cổ họng của bạn nhất. Nhìn lại mùa hè định mệnh năm 1997 tại Châu Á...

1. Bề nổi của con số và thực trạng dòng tiền

Thế giới tài chính vốn vận hành theo một quy luật vô cùng tàn nhẫn khi bạn say xưa nhất trong chiến thắng, đó chính là lúc mà lưỡi hái tử thần kề sát cổ họng của bạn nhất.

Nhìn lại mùa hè định mệnh năm 1997 tại Châu Á, liệu có ai từng ngờ rằng những nền kinh tế đang hừng hực khí thế được cả địa cầu nghiêng mình thán phục bằng danh xưng, những con hổ, con rồng lại có thể sụp đổ chỉ so có một đêm?

Phải chăng sự sụp đổ kinh hoàng đó, thuần túy là hệ quả của lòng tham và sai lầm nội tại? Hay thực chất đây là một vở kịch săn mổi tàn độc được giản dựng công phu bởi những con cá mập tài chính phương tây với mục tiêu là thâu tóm toàn bộ thành quả lao động của hàng trăm triệu con người.

Ai là kẻ chủ mưu? Ai là nạn nhân?

Và ai mới là kẻ mỉm cười đếm tiền trên đống cho tàn đổ nát? Để hiểu thấu đáo một trong những thảng kịch kinh tế lớn nhất lịch sử nhân loại, chúng ta phải lật lại từng lớp lang của sự thật, bóc tách từng cơ chế tiền tệ, phức tạp và nhìn thẳng vào bản chất trần trụi của dòng tiền toàn cầu.

Hôm nay sẽ là một tập podcast khá dài. Nếu bạn thực sự quan tâm, hãy chuẩn bị cho mình một cốc cà phê để tỉnh táo và cùng mình khám phá chi tiết câu chuyện này nhé.

Cơn say tăng trưởng và bức tranh phép màu châu Á. Vào những năm đầu thập niên 1990, nếu bạn đặt chân đế các thủ phủ kinh tế của Đông Á và Đông Nam Á, bạn sẽ cảm nhận được một bầu không khí lạc quan tới mức nghẹt thở.

Cả thế giới khi đó nhìn về châu Á với sự ngưỡng mộ tột cùng. Nhật Bản sau nhiều thập kỷ tá thiết thần kỳ từ đống cho tàn thế chiến thứ hai đã vươn lên thành nền kinh tế lớn thứ hai hành tinh với quy mô GDP vượt mốc 5000 tỷ đô.

Đất nước mặt trời mọc khi đó tự tin tới mức các tập đoàn Nhật Bản ồ ạt thâu tóm các biểu tượng của nước Mỹ từ trung tâm Rockin Fer đến các hãng phim Hollywood.

Cạnh đó thì Hàn Quốc cũng chỗ dậy mạnh mẽ sau cuộc chiến tranh Triều Tiên đã rũ bỏ hoàn toàn hình ảnh của một quốc gia nghèo đói để hóa thân thành công xưởng công nghiệp nặng và điện tử của toàn cầu.

Những cái tên như là Samsung, Hyundai, Dayu, LG trở thành niềm tự hào của dân tộc, dẫn dắt làn sóng công nghiệp hóa thần tốc. Xuô về phương Nam, các quốc gia Đông Nam Á như là Thái Lan, Malaysia, Indonesia hay là Singapore liên tục ghi nhận những mức tăng trưởng GDP bình quân ngoạn mục từ 8% đến 10% mỗi năm.

Bangkok, Colalamp, Jakarta mọc lên những tòa nhà chọc trời gian sát. Các tổ chức quốc tế từ ngân hàng thế giới để cá định chế tải chính phố không tiếc lời ca ngợi đây là phép màu châu Á.

Mọi người tin rằng một kỷ nguyên thịnh vượng vĩnh cửu của châu Á đã tri thức bắt đầu. Người dân thì tin vào sự giàu sang vô tận.

Các doanh nghiệp thì tin vào năng lực vay nợ không giới hạn. Và chính phủ các nước thì tin rằng mô hình kinh tế của họ là hoàn hảo, miễn nhiễm trước mọi sóng gió toàn cầu.

Thế nhưng sự tự tin thái quá đó lại chính là liều thuốc mê độc hại nhất. Nguồn gốc dòng tiền dư chấn từ hiệp định Plaza 1985.

Để hiểu tại sao tiền lại chảy ồ ạt vào châu Á như thác lũ trong thập niên 1990 thì chúng ta bắt buộc phải quay ngược thời gian về ngày 22 tháng năm 1985 tại khách sạn Plaza ở New York.

Thời điểm đó thì Mỹ đang chịu thâm hồ thương mại nặng nề, đặc biệt là với Nhật Bản. Nhóm năm nền kinh tế lớn nhất thế giới lúc bấy giờ là nhóm G5 gồm có Mỹ, Nhật, Tây Đức, Pháp và Anh đã cùng nhau ký kết hiệp định Plaza.

Mục đích cốt lõi của hiệp định này là can thiệp vào thị trường ngoại hối để làm suy yếu đồng đô la Mỹ và ép đồng yên Nhật cùng với đồng MC Đức phải tăng giá mạnh.

Sau hiệp định, đồng yên Nhật tăng phi mã so với USD. Đồng tiền nội tệ quá mạnh đã giá một đòn nặng nề vào các tập đoàn xuất khẩu Nhật Bản, đẩy chi phí nhân công và giá thành sản xuất trong nước lên mức đắt đỏ chưa từng thấy.

Đứng trước bờ vực mất sức cạnh tranh toàn cầu, các doanh nghiệp Nhật Bản buộc phải tìm lối thoát. Họ dịch chuyển dây truyền sản xuất và đẩy dòng vốn đầu tư trực tiếp FDI ra nước ngoài.

Và điểm đến lý tưởng nhất không đâu khác chính là các nước Đông Nam Á lân cận. Khu vực này khi đó thì hội tụ đầy đủ những yếu tố về thiên thời, địa lợi, nhân hòa.

Nó có vị trí chiến lược, nằm trên các tuyến hàng hải huyết mạch, có dân số trẻ dồi rào, có chi phí nhân công siêu rẻ và có môi trường chính trị tương đối ổn định.

Chỉ trong một thời gian ngắn, hơn 15 tỷ đô la vốn đầu tư Nhật Bản thời điểm đó đã ồ ạt đổ vào Thái Lan, Malaysia và Indonesia. Dòng tiền này thì đã thổi bùng lên một giai đoạn bùng nổ sản xuất, xây dựng nhà máy, kích hoạt sự phát triển sôi động chưa từng có trên khắp Đông Nam Á.

Trước bẫy tự do hóa tài chính và bộ ba bất khả thi. Thấy dòng tiền ngoạn đổ vào mang lại sự phồn vinh nhanh chóng, chính phủ các nước Đông Nam Á bắt đầu nôn nóng, muốn đẩy nhanh tốc độ hơn nữa.

Họ nghĩ rằng tại sao chỉ dừng lại vốn FDI sản xuất nhỉ? Trong khi chúng ta có thể mở toang cánh cửa tài chính để hút hàng trăm tỷ đô la dòng vốn gián tiếp từ phố World và châu Âu cơ mà.

Và thế là vào giai đoạn đầu thập niên 1990, một làng sóng tự do hóa tài chính vội vã đã diễn ra khắp khu vực. Các rào cản kiểm soát vốn bị dỡ bỏ.

Các ngân hàng nước ngoài được tự do thâm nhập sâu vào hệ thống tài chính nội địa. Thái Lan thậm chí còn thành lập cơ sở ngân hàng quốc tế Bangkok vào năm 1993 nhằm tạo ra một hành lang thông thoáng tối đa để các ngân hàng và các doanh nghiệp trong nước vay mượn USD từ nước ngoài một cách dễ dàng nhất.

Và kết quả đúng là vượt ngoài mong đợi. Giai đoạn từ 1990 đến 1997, dòng vốn tư nhân toàn cầu đổ vào khu vực Đông Á và Đông Nam Á tăng vọt gấp hơn 5 lần.

Từ 42 tỷ đô la nhảy vọt lên 256 tỷ đô la, chiếm tới 60% tổng dòng vốn đầu tư và các thị trường mới nổi trên toàn thế giới. Thế nhưng cái sai lầm mang tính cấu trúc chí mạng bắt đầu xuất hiện từ đây.

Chính sách neo tỷ giá cố định và đồng đô la Mỹ. Để thu hút những nhà đầu tư nước ngoài và trấn an họ rằng không có rủi ro khi rót tiền vào thị trường mới nổi, Ngân hàng Trung ương Thái Lan đã đưa ra một lời hứa vàng son, đấy là neo cứng đồng bạc ở mức xấp xỉ 25 bạc đổi 1 đô la trong suốt hàng chục năm.

Chính sách này đã tạo ra một kẽ hở đầu cơ kinh điển mang tên là giao dịch chênh lệch lã suất Krycha. Cụ thể như sau, tại Mỹ lã suất vay USD chỉ ở mức thấp là khoảng từ 3% đến 6% năm.

Còn tại Thái Lan, để kiềm chế lạ phát và hút vốn thì lã suất tiền gửi nội tệ lại được duy trì ở mức cao ngất ngưng là từ 8% đến 12%/ năm.

Và do tỷ giá bị giữ cố định ở mức 25 bạc trên 1 đô. Những nhà đầu tư nước ngoài, các ngân hàng và các doanh nghiệp nội địa họ nhận ra một cái cỗ máy in tiền hoàn hảo.

Họ sẽ vay USD giá rẻ từ Mỹ hoặc là Châu Âu. Rồi họ chuyển sang Thái Lan đổi thành đồng bạt để gửi ngân hàng hoặc là cho vay lại với mức lã suất cao.

Khi đến hạn thì họ lại đổi bạt lấy USD để trả nợ gốc và bỏ túi cái phần chênh lệch lã suất khổng lồ mà hoàn toàn không lo sợ rủi ro mất giá tiền tệ.

Đây là một cái vòng lặp tự xác. Khi dòng vốn ngoại ồ ạt đổ vào đổi lấy bạt, ngân hàng trung ương Thái Lan buộc phải in thêm bạt và mua gom USD vào giữ trữ để mà giữ cho tỉ giá không tăng đúng không?

Cùng tiển nội địa thì phình to khiến lạ phát bắt đầu tăng cao. Để chống lạ phát, Thái Lan lại phải tăng lã suất.

Mà lã suất càng cao thì lại càng kích thích dòng vốn nóng đầu cơ đổ vào mạnh hơn nữa. Và thế nào Thái Lan đã tự mình bước vào một cái bẫy mang tên bộ ba bất khả thi trong kinh tế học vĩ mô.

Cái định lý này thì nó chỉ ra rõ như sau. Một quốc gia không bao giờ có thể duy trì đồng thời cả ba yếu tố.

Một đấy là dòng vốn luân chuyển hoàn toàn tự do. Hai là tỷ giá hối đoái cố định.

Cái này rất quan trọng. Và thứ ba đấy là chính sách tiền tệ độc lập.

Bạn chỉ được chọn tối đa hai trong ba thôi. Nhưng Thái Lan và các nước Đông Nam Á khi đó lại tham lam muốn nắm giữ cả ba.

Họ vừa mở cửa cho vốn ngoại tự do ra vào, vừa neo cứng tỉ giá, lại vừa muốn tự do điều chỉnh lã suất để kiểm soát lạm phát và cố giữ cả ba.

Nó chỉ dẫn tới một kết cục duy nhất, đấy là hệ thống sụp đổ, bong bóng tài sản và ngòi nổ bất động sản. Và khi mà hàng trăm tỷ đô la nó chảy vào một nền kinh tế vốn có quy mô hấp thụ quá bé thì dòng tiền đó nó sẽ chảy đi đâu?

Đáng tiếc thay, nguồn vốn khổng lồ này phần lớn thì không được đổ vào nghiên cứu công nghệ, nâng cao năng suất hay là xây dựng nền tảng sản xuất chiều sâu mà thay vào đó nó chảy thẳng vào hai cái lĩnh vực đầu cơ béo bở nhất, sinh lở nhanh nhất thế nhưng cũng rủi ro nhất.

Đấy là thị trường chứng khoán và bất động sản. Từ năm 1990 đến năm 1995, tín dụng đổ vào lĩnh vực bất động sản tại Thái Lan đã tăng trưởng với tốc độ điên cuồng là 41%/ên m năm.

Nó vượt xa tốc độ tăng trưởng tín dụng chung của cả nền kinh tế là chỉ 33%. Các tòa tháp văn phòng, các khu chung cư cao cấp, các dự án nghỉ dưỡng sân gố mọc lên như nấm mưa khắp Bang Cốc.

Tâm lý của đám đông bị dẫn dắt bởi niềm tin mù quáng rằng giá đất ở châu Á sẽ còn tăng mãi. Người dân vay tiền mua nhà, giới nhà giàu thì vay tiền lướt sóng đất, doanh nghiệp cũng vay tiền gom quỹ đất.

Các ngân hàng thương mại và công ty tài chính cũng hùa theo cuộc chơi này. Họ nới lỏng toàn bộ tiêu chuẩn thẩm định tín dụng, sẵn sàng giải ngân hàng nghìn tỷ bạt.

Với tài sản thế chấp chính là những mảnh đất bị thổi giá trên trời. Cái bẫy chết người nằm ở chỗ.

Bất động sản là tài sản nội địa phi thương mại.


2. Cơ chế in tiền, pha loãng nợ và kẻ phải trả giá ngầm

Nó không thể xuất khẩu để thu về USD. Trong khi nguồn tiền tà trợ cho nó lại là các khoản vay nợ ngắn hạn bằng ngoại tệ USD.

Một cái vòng xoáy ảo tưởng được dựng lên đó là vay USD ngắn hạn rồi đổi ra bạt rồi thì bơm vào đất rồi thì khiến giá đất tăng dẫn đến định giá tài sản tăng rồi thì lại vay thêm nợ mới để trả nợ cũ và cả nền kinh tế ngồi trên một cái quả bom nổ chậm khổng lồ chỉ chờ một cơn gió nhẹ để phát nổ điểm bùng phát và cú sập kinh hoàng năm 1997 bước sang đầu năm 1997 những vết nứt nghiêm trọng của nền kinh tế Thái Lan bắt đầu lộ rõ cán cân thương mại thâm hụt nặng nề nhập siêu 1,5 tỷ đô la do đồng bạt neo theo USD bị định giá quá cao khiến cho hàng xuất khẩu mất sức cạnh tranh thâm hụt cán cân thanh toán thì lên tới 14,7 tỷ đô la dự chữ ngoại hối chỉ còn khoảng 30 tỷ đô trong khi tổng nợ nước ngoài ngắn hạn phải trả trong vòng 1 năm đã vượt quá 140% dự chững ngoại hối.

Có lã xuất lên ngân hàng thì bị đẩy lên mức nghẹt thở là gần 13%. Nhận thấy cái tử huyệt chí mạng này, các cá mập đầu cơ tài chính quốc tế đứng đầu là kỹ Quantum Fun của Jor Soros đã đánh hơi thấy mùi máu.

Họ nhận ra rằng ngân hàng trung ương Thái Lan hoàn toàn không có đủ USD để bảo vệ tỷ giá nham bạt trên một USD nếu xảy ra một đợt rút vốn quy mô lớn.

Tháng 5 năm 1997, Soros cùng với các quỹ đầu cơ phát động cuộc tổng tấn công. Chiến thuật của họ cực kỳ đơn giản nhưng vô cùng tản bạo.

Họ vay hàng tỷ bạt từ các ngân hàng qua các hợp đồng kỳ hạn. Sau đó thì ồ xả bán đồng bản trên thị trường ra ngay để gom mua USD.

Cái hành động bán tháo ô này nó tạo ra một cái làn sóng hoảng loạn cực độ. Những nhà đầu tư nước ngoài và chính doanh nghiệp Thái Lan cũng hốt hoảng bán tháo bạt để mua USD tẩu tán tài sản.

Để giữ lời hứa tỷ giá cố định, Ngân hàng Trung ương Thái Lan đã lao vào một canh bạc sinh tử. Họ liên tục tung giữ trên ngoại hối USD ra để mua lại chính đồng bạt bị bán tháo nhưng có vẻ họ chưa nhận ra sức nghiêm trọng của vấn đề.

Và chỉ trong có vài tuần ngắn ngủi, Thái Lan đã đốt sạch gần hết quỹ ngoại tệ dự trữ thực tế, chỉ còn lại những hợp đồng kỳ hạn rỗng ruột.

Ngày mùng 0 tháng năm 1997, không còn một đồng USD nào để tiếp tục can thiệp. Ngân hàng trung ương Thái Lan khi này đã bắt đầu phải dương cờ trắng đầu hàng.

Họ chính thức tuyên bố từ bỏ cơ chế, neo tỉ giá và thả nổ đồng bạt sau hơn 40 năm gắn chặt với USD. Và nó sinh ra một cái hệ quả tức thì.

Chiếc đập ngăn lũ đã vỡ tung, đồng bạt rơi tự do không phanh. Từ mức 25 bạt trên 1 đô, nó lao dốc thảm hại xuống mức đáy lịch sử là 56 bạ trên 1 đô.

Tức là bốc hơi hơn 50% giá trị. Đấy, thảm họa nổ ra.

Các doanh nghiệp Thái Lan trước đây vay 1 tỷ đô la chỉ phải trả 25 tỷ bản. Nay thì khoản nợ bỗng chốc nhân đôi lên 56 tỷ bạt.

Trong khi doanh thu bằng bạt thì gì ạ? Nó không đổi.

Và thế là hàng loạt những tập đoàn vỡ nợ. Hơn 58 công ty tài chính lớn nhất Thái Lan tuyên bố phá sản hàng loạt.

Hệ thống ngân hàng tê liệt thị trường chứng khoán sụp đổ hoàn toàn. Vết dầu loang toàn cầu.

Cú sập tại Bangkok không dừng lại ở biên giới Thái Lan. Nó kích hoạt hiệu ứng domino tàn khốc nhất lịch sử hiện đại.

Nó quét qua toàn bộ các nền kinh tế mới nổi. Những quý đầu tư quốc tế hoảng sợ nhận ra rằng các quốc gia châu Á khác cũng có mô hình kinh tế tương tự Thái Lan.

Đấy là nợ ngắn hạn bằng USD rất cao. Tỷ giá thì neo cố định và bong bóng tài sản.

Bất động sản thì phình to. Một làn sóng tháo chạy vốn chưa từng có đã diễn ra.

Chỉ trong vòng có vài tháng, hơn 50 tỷ đô la vốn tư nhân bị rút sạch khỏi Đông Á. Ở Indonesia.

Đồng Rupia sụp đổ tồi tệ nhất. Nó mất hơn 80% giá trị.

Nền kinh tế nước này rơi vào sự hỗn loạn, lạ phát tăng phi mã, đẩy giá lâng thực lên tận trời xanh dẫn đến cuộc bạo loạn đường phố đẫm máu và lật đổ chế độ tổng thống SHO sau hơn 30 năm cầm quyền.

Còn ở Hàn Quốc, nền kinh tế lớn thứ 11 thế giới đứng bên bờ vực vỡ nợ quốc gia khi đầu mất giá thảm hại. Dự chữ ngoại hối cạn kiệt, hàng loạt ceb khổng lồ như là HBO Steel, Kia Moto sụp đổ kéo theo toàn bộ hệ thống tài chính quốc gia tê liệt.

Còn Malaysia, Philippines, Hồng Kông, tất cả đều bị tấn công tiền tệ dữ dội. Thị trường chứng khoán giảm từ 50% đến 70%.

Hàng triệu người thuộc tầng lớp trung lưu bỗng chốc mất trắng toàn bộ tài sản, nhà cửa thì bị ngân hàng tịch thu, tỷ lệ thất nghiệp cũng tăng vọt.

Cần điệu chấn này nó còn lan rộng tới phạm vi toàn cầu cơ, dẫn tới cuộc khủng hoảng nợ công và vỡ nợ đồng đốp của Nga vào năm 1998, đánh sập quỹ đầu cơ huyền thoại phố World Long Term Capital Managestment và đẩy nền kinh tế Brazil vào suy thoái nặng nề.

Và thế là phép màu châu Á rực rỡ chỉ sau có một đêm thôi đã biến thành vũng cho tàn đổ nát. Ai là kẻ thực sự hưởng lợi nhiều nhất?

Khi cơn bão quét qua để lại hàng triệu mảnh đời tan nát thì câu hỏi g dứt và cay đắng nhất được đặt ra trên khắp các diễn đản chính trị toàn cầu.

Ai là kẻ đã châm ngòi và ai là người đã thu hoạch nhiều nhất từ đống đổ nát này? Thuyết âm ưu hãy là một cuộc săn mổi có tổ chức.

Đối với những nhà kinh tế học chính thống phương Tây, cuộc khủng hoảng năm 1997 được lý giải một cách vô cùng khách quan. Đó chỉ là sự trừng phạt tất yếu của cơ chế thị trường tự do đối với những sai lầm vĩ mô, tình trạng quản trị yếu kém và chủ nghĩa tư bản thân hữu tại Châu Á.

Thế nhưng tại các quốc gia bị tàn phá, người ta không thể không đặt ra những giả thuyết gai góc hơn. Liệu có một bàn tay vô hình đứng đằng sau giật dây không?

Liệu đây có phải là một cuộc chiến tranh tiền tệ được tính toán kỹ lưỡng? Nhằm bẻ gãy sức mạnh chỗ dậy của những con hổ châu Á, ngăn chặn khu vực này thách thức vị thế báo chủ kinh tế của phương Tây.

Đứng giữa tâm bão của mọi lời cáo buộc chính là Jor Soros, ông trùm của quỹ đầu cơ quan thường phân, người từng được mệnh danh là kẻ đánh sập ngân hàng Anh trong sự kiện thứ tư đen tối năm 1992.

Lời buộc tội, sự phủ nhận và toan tính địa chính trị tại hội nghị thượng đỉnh Ngân hàng Thế Giới và IMF diễn ra tại Hồng Kông vào tháng 9 năm 1997.

Thủ tướng Malaysia lúc bấy giờ là ông Mahatthi Mohamed đã có bài phát biểu đanh thép gây chấn động toàn cầu. Ông Mahathi công khai chỉ đích danh Jor Soros và các quỹ đầu cơ phương tây là những kẻ vô đạo đức là thủ phạm trực tiếp tạo ra thảm họa tài chính để trục lợi trên mồ hôi nước mắt của hàng chục triệu người dân nghèo châu Á.

Ông cá buộc rằng các quỹ này đã tích lũy khối tài sản khổng lồ chỉ bằng một vài cú nhấp chuột đầu cơ tiền tệ phá hủy thành quả xây dựng đất nước suốt 40 năm của cả khu vực.

Phản bác lại thì J Soros khẳng định rằng ông ta và quỹ của mình không hề gây ra khủng hoảng. Soros lập luận rằng thị trường tài chính vận hành theo quy luật khách quan.

Khi một hệ thống xuất hiện lỗ hổng cấu trúc nghiêm trọng, những nhà đầu cơ xuất hiện chỉ như những con kiền kiền dọn rác giúp phơi bày sự thật và điều chỉnh lại sự mất cân bằng.

Soros thừa nhận mình đã kiếm được hàng tỷ đô la lợi nhuận. Thế nhưng ông cho rằng đó là phần thưởng cho việc ông nhìn ra quy luật sớm hơn người khác.

Và sự sụp đổ của châu Á chỉ là dấu hiệu báo trước cho một cuộc khủng hoảng mang tính hệ thống của mô hình tư bản toàn cầu. Vậy thì yếu tố địa chính trị có đóng vai trò gì không?

Cũng có nhiều nhà phân tích nhắc lại một chi tiết đáng chú ý đấy là cũng chỉ đúng 2 tháng trước khi cuộc khủng hoảng bùng nổ vào tháng 5 năm 1997 ASEAN đã bất chấp sự phản đối gay gắt từ Washington và Brooken để chính thức kết nạp Myanmar quốc gia đang chịu lệnh trừng phạt nặng nề của phương Tây.

Có một số giả thuyết cho rằng là cú sập kinh tế là đòn trừng phạt điện chính trị nhằm gian nee các nước Đông Nam Á. Tuy nhiên thì nếu phân tích sâu sắc dưới góc độ kinh tế và lịch sử, giả thuyết trừng phạt chính trị kiểu này nó chưa đủ sức thuyết phục tuyệt đối.

Chế độ quân sự Myanmar đã tồn tại từ năm 1962 và phương Tây thì họ có hàng tá công cụ cấm vận trực tiếp thay vì phải kích hoạt một cái cuộc khủng hoảng tài chính có nguy cơ làm rung chuyển cả hệ thống ngân hàng toàn cầu, thậm chí là cả chính họ.

Bức tranh săn mồi khi hổ non rơi vào cái bẫy ba tầng. Và dù có thuyết âm mưu hay không thì thực tế nó diễn ra trên thị trường cho thấy một cái kịch bản săn mồi ba tầng vô cùng hoàn hảo mà những con hổ châu Á non nớt không tải nào thoát ra khỏi.

Tầng thứ nhất người mở đường các quỹ đầu cơ. Jor Soros, Julian Robertson, quỹ Tiger Managestment cùng với các quỹ đầu cơ mạo hiểm bóng vai trò là những tay lính tiên phong.

Họ tôm đòn bảy tài chính khổng lồ, chọc thủng bóng tiền tệ, kích hoạt làn sóng hoảng loạn, tháo chạy vốn và đánh sập tỉ giá hối đoán nội tệ.

Tầng thứ hai, những xạ thổ hiểm trợ, đó là quỹ tiền tệ IMF và ngân hàng thế giới WB. Khi các quốc gia kiệt quệ, IMF xuất hiện như một vị cứu tinh với các gói cứu trợ hàng chục tỷ đô.

Thế nhưng cái giá của sự cứu trợ này là vô cùng đắt đỏ. IMF áp đặt một cái gọi là Đồng Thuận Washington.

Họ buộc các nước nhận viện trợ phải thắt lưng buộc bụng tuyệt đối, phải cắt giảm chi tiêu công, phải tăng vọt lã suất nội địa. Có lúc lên tới 30% đến 50% cơ.

Phải đóng cửa các ngân hàng yếu kém và quan trọng nhất là bắt buộc phải mở toang cửa thị trường cho phép các tập đoàn nước ngoài thâu tóm các doanh nghiệp nội địa lớn và tầng thứ ba những thợ săn thu hoạch các tập đoàn đa quốc gia phương tây chính sách tăng lã suất và thắt chặt tín dụng của đã biến những doanh nghiệp châu Á dù là có nền tảng sản xuất tốt đấy nhưng mà thiếu thanh khoản ngắn hạn thì cũng phải phá sản hàng loạt một cái tình cảnh vô cùng bi đát đẫm nước mắt khi mà giá trị tài sản của châu rơi xuống cái mức đồng nát.

Những tập đoàn đa quốc gia phương Tây cầm sẵn cả núi tiền mặt chỉ việc thong dong bước vào và mua lại các tập đoàn đầu ngành với mức giá rẻ như tro.


3. Điểm gãy chu kỳ: Kịch bản sòng phẳng cho tài sản cá nhân

Hiểu nô na là giới tài phiệt phương tây với những cái trò ảo thuật tài chính đã ép chết được những doanh nghiệp làm ăn thật, sản xuất thật và qua trò định giá đã sở hữu họ với mức giá rẻ mạt.

Danh sách những kẻ thắng cuộc thực sự sau năm 1997. Hãy nhìn vào những thương vụ thâu tóm lịch sử sau năm 1997 để thấy được ai mới là người hưởng lợi cuối cùng.

BMP Paras đây là ngân hàng khổng lồ của Pháp. Họ đã nhanh chóng thâu tóm mảng mô giới và ngân hàng đầu tư của Perry Green Investment Holding.

Đây là tập đoàn tài chính độc lập lớn nhất châu Á thời điểm đó. Sau khi mà Pere Green sụp đổ về các khoản nợ xấu tại Indonesia.

Tiếp theo là hãng General Motor, tập đoàn xe hơi số 1 của nước Mỹ đã nuốt chừng mảng sản xuất xe hơi của tập đoàn Dau Motor của Hàn Quốc với một cái mức giá quá rẻ mạt sau khi mà đế chế Dayu với khoản nợ 80 tỷ đô la sụp đổ hoàn toàn.

Tiếp theo là tập đoàn PNG, tập đoàn hàng tiêu dùng khổng lồ của Mỹ. Họ đã chi tiền mà thâu tóm toàn bộ mảng kinh doanh giấy lừng danh của Sangjong Paper của Hàn Quốc.

Tiếp theo thì phải kể đến Prinal Security. Họ nhanh chóng nhảy vào kiểm soát và thâu tóm công ty chứng khoán và tài chính hàng đầu của Thái Lan là Nava Finance and Security.

Ngay trong đợt thanh lý tài sản nợ và những nhà đầu tư phương Tây đã mua được những nhà máy hiện đại nhất, những dây truyền công nghệ tối tân nhất và những cái mạng lưới phân phối béo bở nhất châu Á với mức chết khấu từ 50% đến 80% so với giá trị thực trước khủng hoảng.

Kinh hoàng không? Cô máy tự động hay bàn tay của các siêu cường?

Rốt cuộc thì liệu có một tổng công trình sư duy nhất nào đứng sau điều hành toàn bộ các cuộc đi săn này hay không? Câu trả lời chân thực và sắc bén nhất tới góc độ tài chính hiện đại đấy là chẳng cần thiết phải có một kẻ chủ mưu duy nhất đâu.

Bởi vì chính hệ thống tài chính tư bản tự do toàn cầu hóa đã được thiết kế nó như một cỗ máy tự động hoàn hảo vậy. Trong cỗ máy đó thì dòng tiền vận hành thuần túy theo quy luật tối đa hóa lợi nhuận và đào thải kẻ yếu.

Nơi nào mở cửa nhưng thiếu lá chắn hiệu quả về quản trị thì dòng tiền nó sẽ ồ ạt chảy vào thổi phồng băng bóng lên để kiếm lời nhanh.

Nơi nào bộc lộ điểm yếu cấu trúc, các quỹ đầu cơ nó sẽ tự động la vào sâu xé để kiếm lợi nhuận từ sự sụp đổ. Và khi một khủng hoảng nổ ra, các định chế tài chính quốc tế áp đặt luật chơi phục vụ cho lợi ích của các nước phát triển.

Và cuối cùng thì các tập đoàn tư bản lớn nhất sẽ bước vào và dọn dẹp chiến trường và thu gom tài sản giá rẻ. Những nền kinh tế mới nổi nếu quá ngây thơ, mở toang cửa tài chính mà không trang bị nộ lực và công cụ phòng vệ đủ mạnh thì sẽ mãi mãi chỉ là những con mồ béo bở trên bàn cờ của các thế lực tài chính lõi.

Tái sinh sau địa chấn tài chính, bản lĩnh của những kẻ sống sót. Cuộc khủng hoảng tài chính năm 1997 là một vết thương hằn sâu vào da thịt của hàng triệu gia đình châu Á.

Thế nhưng lịch sử thì đã chứng minh rồi, sức mạnh thực sự của một dân tộc không được đo bằng việc họ đứng vững bao lâu trong thời kỷ hoàng kim mà được đo bằng cách họ gượng dậy mạnh mẽ như thế nào từ đống cho tàn, đống đổ nát và sự thức tỉnh bản lĩnh.

Sau cơn bão tài chính, các quốc gia châu Á không còn đắm chìm trong những ảo tưởng về sự giàu sang dễ dãi. Họ nhận ra rằng là không có bất kỳ một phép màu nào từ bên ngoài cả và cũng chẳng có định chế quốc tế nào thực làm cứu vớt họ mà không đòi hỏi những cái giá cắt cổ.

Con đường duy nhất để tồn tại và bảo vệ chủ quyền kinh tế là phải tự vực dậy bằng kỷ luật thép, phải tái cấu trúc triệt để từ gốc dễ và tinh thần tự lực tự cường.

Hai con đường tái sinh kinh điển. Mỗi quốc gia thì họ đã chọn cho mình một chiến lược phục hồi mang đậm bản sắc và năng lực cốt lõi.

Đầu tiên thì phải là Thái Lan, một cuộc đại phẫu thuật không gây mê. Là tâm chấn của cô khủng hoàng, Thái Lan đã chọn con đường đau đớn nhất nhưng thực tế nhất đấy là chấp nhận phẫu thuật toàn bộ hệ thống tài chính.

Đầu tiên thì họ chấp nhận cắt bỏ khối u. Chính phủ của họ kiên quyết đóng cửa vĩnh viễn hơn 50 công ty tài chính yếu kém, xử lý hàng núi nợ xấu mà không dùng ngân sách cứu trợ bừa bãi.

Họ chấp nhận bán rất rẻ nhiều tài sản công và doanh nghiệp nhà nước cho các đối tác ngoại để đổi lấy thanh khoản USD, giữ cho quốc gia không bị cô lập khỏi dòng trải thương mại quốc tế.

Tiếp theo thì họ cũng tận dụng cú hích mất giá tiền tệ để thay đổi về mảng xuất khẩu. Nhận thấy đồng bạt mất giá tới 50% nó cũng là một cái loại vũ khí hủy diệt về mặt giá thành trên thị trường quốc tế.

Thái Lan đã tái định hướng toàn bộ nền kinh tế sang sản xuất khẩu thực chất. Kiểu con dao hai lưỡi với nông nghiệp và chế biến thực phẩm, họ đẩy mạnh hiện đại hóa nông nghiệp và đưa Thái Lan trở thành cường quốc xuất khẩu gạo và nông sản số 1 thế giới.

Về mảng công nghiệp phụ trợ và lắp ráp, họ tận dụng triệt để dò vốn FDI mới, đầu tư mạnh vào cơ sở hạ tầng khu công nghiệp bờ biển phía đông, từng bước biến Thái Lan thành trung tâm sản xuất linh kiện điện tử và lắp ráp ô tô hàng đầu khu vực.

Và sau này được mệnh danh là Detroit của Đông Nam Á. Nỗi đau ngắn hạn của việc thắt lưng buộc bụng đã đặt nền bóng vững chắc cho một nền kinh tế Thái Lan có sức đề kháng cao hơn gấp nhiều lần.

Câu chuyện tiếp theo thì là Hàn Quốc, sức mạnh của khối đạ đoàn kết và phép màu thứ hai trên sông Hán. Nếu Thái Lan chọn cách chấp nhận đau đớn cắt bỏ thì Hàn Quốc họ lại tạo nên một cái bản Anh hùng ca về tinh thần đoàn kết, chiến dịch quyên góp vàng để cứu quốc, đổi vàng lấy world.

Khi quốc gia của họ đứng trước nguy cơ vỡ nợ, đã có hơn 3,5 triệu người Hàn Quốc từ các cụ già, em nhỏ, công nhân cho tất cả những ngôi sao thể thao, nghệ sĩ đã xếp hàng dài dưới trở tuyết lạnh, tự nguyện mang nhẫn cưới, dây chuyển kỷ vật bằng vàng của gia đình ra nộp cho ngân hàng nhà nước.

Tổng số vàng quyên góp được trị giá hơn 2 tỷ đô la. Dù con số này thì nó cũng chỉ chiếm khoảng 4% tổng số nợ mà chính phủ Hàn Quốc vay từ AMF.

Nhưng mà nó cũng tạo ra một cái cú sốc tâm lý cực lớn trên toàn cầu. Các chủ nợ quốc tế nhận thấy một dân tộc có tinh thần kỷ luật và có ý chí quật cường đến mức mà không một thế lực tài chính nào có thể đánh bại.

Tiếp theo thì là cuộc đại phẫu thuật với các chô. Chính phủ của tổng thống Kim Đê Dung đã thẳng tay ép các tập đoàn gia đình chị chê bô phải tá cấu trúc lại toàn diện.

Nguyên tắc quá lớn để sụp đổ đã bị xóa bỏ. Hàn loạt các chơ bô làm ăn kém hiệu quả bị giải thể.

Những chôn sống sót như là Samsung, Hyundai, LG thì buộc phải cắt bỏ các ngành nghề kinh doanh ngoài cốt lõi để tập trung toàn bộ nguồn lực vào nghiên cứu và phát triển cho các lĩnh vực công nghệ cao như là chất bán dẫn, màn hình tinh thể lỏng, viễn thông, ô tô và cả văn hóa giải trí với đảo sóng Hari, Kpop và điện ảnh.

Và kết quả rất kỳ diệu. Chuyển đúng 1 năm sau khủng hoảng, tăng trưởng GDP của Hàn Quốc từ mức âm đã bật tăng ngoạn mục lên mức hai con số vào năm 1999.

Và đến năm 2001, Hàn Quốc đã trả sạch toàn bộ khoản nợ 58 tỷ đô la cho IMF trước thời hạn 3 năm và chính thức bước vào hàng ngũ các quốc gia phát triển, có nền công nghệ hàng đầu thế giới.

Bài học thể chế và sự thức tỉnh toàn cầu. Biến cố năm 1997 đã buộc cả châu Á nơi các định chế phương Tây phải định hình lại toàn bộ tư duy quản trị kinh tế.

Đầu tiên là đương nhiên rồi, họ phải từ bỏ cái cơ chế neo tỷ giá mù quáng. Các quốc gia châu Á đã vĩnh viễn từ bỏ chính sách tỷ giá cố định cứng nhắc, chuyển sang cơ chế tỉ giá thả nổi có quản lý.

Họ để đồng tiền tự do biến động theo cung cầu thị trường, đóng vai trò như là một chiếc van giảm sóc tự nhiên cho nền kinh tế mỗi khi mà có cú xốc từ bên ngoài.

Đồng thời thì triệt tiêu hoàn toàn kẽ hở cho các quỹ đầu cơ carry ch. Tiếp theo là xây dựng pháo đài dự chữ ngoại hối.

Các nước Châu Á thì nhận ra rằng là chắn an ninh quốc gia vững chắc nhất trong thời đại tài chính toàn cầu chính là một quỹ dự trữ ngoại hối dồi rào.

Và thế là kể từ sau năm 1997, châu Á đã trở thành khu vực tích lũy dự chữ ngoại hối lớn nhất hành tinh. Và tiếp theo là cũng là sự cải tổ tư duy từ phía IMF.

Sau khi bị cả thế giới chỉ trích dữ dội vì những cái đơn thuốc thắt lưng buộc bụng mang tính áp đặt và rất tàn nhẫn thì đến IMF cũng phải một cải tổ lại sâu rộng.

Bước sang thế kỷ 21 này, các gói hỗ trợ của IMF cũng đã linh hoạt hơn. Họ cho phép các quốc gia tái cơ cấu nợ mềm dẻo hơn và khuyến khích gia tăng chi tiêu an sinh xã hội trong thời kỳ khủng hoảng.

Giá trị của sự trưởng thành từ đau thương. Ba thập kỷ đã trôi qua kể từ mùa hè rực lửa năm 1997.

Bức tranh kinh tế thế giới đã có rất nhiều thay đổi. Thế nhưng bài học từ cuộc khủng hoảng tài chính châu Á vẫn còn nguyên giá trị mang tính thời đại.

Nó nhắc nhở chúng ta về một chân lý bất biến. Sức mạnh thực sự của một nền kinh tế.

Nó không nằm ở những con số tăng trưởng hào nhoáng nhất thời, cũng không nằm ở những tòa nhà chọc trời được xây bằng tiền nợ mà nằm ở nội lực sản xuất thực tế, ở kỷ luật tài chính nghiêm ngặt và năng lực tự chủ trước những cơn bão tài chính toàn cầu.

Thái Lan đã chấp nhận nỗi đau phẫu thuật để trở thành trung tâm sản xuất công nghiệp và nông nghiệp kiên cường. Hàn Quốc thì cũng biến hiểm nguy thành chất keo đoàn kết dân tộc để vươn lên thành cường quốc công nghệ của thế giới.

Những quốc gia từng là nạn nhân gục ngã năm đó không hề biến mất khỏi bản đồ kinh tế. Họ đã đứng dậy bằng chính đôi chân của mình, dạn dĩ hơn, khôn ngoan hơn và bản lĩnh hơn gấp bội.

Bởi vì trong thế giới tài chính đầy cạm bẫy và khốc liệt, thất bại không phải là dấu chấm hết. Thất bại đau đớn nhất chính là điểm khở đầu vĩ đại nhất cho sự trưởng thành của một dân tộc.

Mình đang phát triển một kênh thứ hai của The Hidden Team, đó là kênh The Hidden P, nơi sẽ có những hành trình đầy góc khuất. Đây là nơi sẽ có những câu chuyện lịch sử hấp dẫn được kể lại với giọng văn, các cách kể chuyện thú vị, ly kỳ nhất.

Ở đó sẽ có những câu chuyện về lịch sử Việt Nam trong playlist Đại Việt sử ký. Những câu chuyện về lịch sử Trung Quốc trong playlist Trung Hoa sử ký và những câu chuyện về tiểu thuyết trong Kiếm Vũ Phong Vân.

Nếu bạn quan tâm tới những nội dung này thì mình hy vọng sẽ được mọi người ủng hộ, ghé qua và để lại một lượt subscribe cũng như xem qua video bên kênh mình.

Cảm ơn mọi người rất nhiều.

Không có phép màu nào trong bài toán cân đối nợ nần. Khi nợ chạm trần, hoặc là chấp nhận lạm phát để quỵt nợ dần, hoặc là cấu trúc lại toàn bộ luật chơi.


📜 Xem toàn bộ Transcript gốc (Dữ liệu đối chiếu)

Thế giới tài chính vốn vận hành theo một quy luật vô cùng tàn nhẫn khi bạn say xưa nhất trong chiến thắng, đó chính là lúc mà lưỡi hái tử thần kề sát cổ họng của bạn nhất. Nhìn lại mùa hè định mệnh năm 1997 tại Châu Á, liệu có ai từng ngờ rằng những nền kinh tế đang hừng hực khí thế được cả địa cầu nghiêng mình thán phục bằng danh xưng, những con hổ, con rồng lại có thể sụp đổ chỉ so có một đêm? Phải chăng sự sụp đổ kinh hoàng đó, thuần túy là hệ quả của lòng tham và sai lầm nội tại? Hay thực [âm nhạc] chất đây là một vở kịch săn mổi tàn độc được giản dựng công phu bởi những con cá mập tài chính phương tây với mục tiêu là thâu tóm toàn bộ thành quả lao động của hàng trăm triệu con người. Ai là kẻ chủ mưu? Ai là nạn nhân? Và ai mới là kẻ mỉm cười đếm tiền trên đống cho tàn đổ nát? Để hiểu thấu đáo một trong những thảng kịch kinh tế lớn nhất lịch sử nhân loại, chúng ta phải lật lại từng lớp lang của sự thật, bóc tách từng cơ chế tiền tệ, phức tạp và nhìn thẳng vào bản chất trần trụi của dòng tiền toàn cầu. Hôm nay sẽ là một tập podcast khá dài. Nếu bạn thực sự quan tâm, hãy chuẩn bị cho mình một cốc cà phê để tỉnh táo và cùng mình khám phá chi tiết câu chuyện này nhé. Chào mừng đến với The Hidden Self, nơi sẽ có những sự thật mà xã hội không muốn cho bạn biết. AI đã hiện diện ở khắp mọi nơi nhưng sức mạnh thực sự chỉ thuộc về người hiểu rõ cách thức nó vận hành. Những câu lệnh ngắn gọn trống rỗng sẽ chỉ khiến cô máy đưa ra những câu trả lời vô thưởng vô phạt không thể tháo gỡ khó khăn của bạn. Khóa học của Sơn Hải Nguyễn sẽ trang bị công thức giao việc đa tầng giúp bạn vạch rõ bối cảnh để tạo ra nội dung sắc bén. Bạn sẽ nắm vững nghệ thuật đúc khuôn nhằm ra ei AI chuẩn hóa văn phong thương hiệu và làm [âm nhạc] chủ kỹ năng tặng kèm bộ 100 câu lệnh thực chiến. Đăng ký ngay khóa học đỉnh cao từ Sơn Hải Nguyễn để được tặng kèm miễn phí bộ công cụ thực hành tài khoản Gam Pro 1 năm chính chủ và 5 TB Google Driver lưu trữ. Cơn say tăng trưởng và bức tranh phép màu châu Á. Vào những năm đầu thập niên 1990, nếu bạn đặt chân đế các thủ phủ kinh tế của Đông Á và Đông Nam Á, bạn sẽ cảm nhận được một bầu không khí lạc quan tới mức nghẹt thở. Cả thế giới khi đó nhìn về châu Á với sự ngưỡng mộ tột cùng. Nhật Bản sau nhiều thập kỷ tá thiết thần kỳ từ đống cho tàn thế chiến thứ hai đã vươn lên thành nền kinh tế lớn thứ hai hành tinh với quy mô GDP vượt mốc 5000 tỷ đô. Đất nước mặt trời mọc khi đó tự tin tới mức các tập đoàn Nhật Bản ồ ạt thâu tóm các biểu tượng của nước Mỹ từ trung tâm Rockin Fer đến các hãng phim Hollywood. Cạnh đó thì Hàn Quốc cũng chỗ dậy mạnh mẽ sau cuộc chiến tranh Triều Tiên đã rũ bỏ hoàn toàn hình ảnh của một quốc gia nghèo đói để hóa thân thành công xưởng công nghiệp nặng và điện tử của toàn cầu. Những cái tên như là Samsung, Hyundai, Dayu, LG trở thành niềm tự hào của dân tộc, dẫn dắt làn sóng công nghiệp hóa thần tốc. Xuô về phương Nam, các quốc gia Đông Nam Á như là Thái Lan, Malaysia, Indonesia hay là Singapore liên tục ghi nhận những mức tăng trưởng GDP bình quân ngoạn mục từ 8% đến 10% mỗi năm. Bangkok, Colalamp, Jakarta mọc lên những tòa nhà chọc trời gian sát. Các tổ chức quốc tế từ ngân hàng thế giới để cá định chế tải chính phố không tiếc lời ca ngợi đây là phép màu châu Á. Mọi người tin rằng một kỷ nguyên thịnh vượng vĩnh cửu của châu Á đã tri thức bắt đầu. Người dân thì tin vào sự giàu sang vô tận. Các doanh nghiệp thì tin vào năng lực vay nợ không giới hạn. Và chính phủ các nước thì tin rằng mô hình kinh tế của họ là hoàn hảo, miễn nhiễm trước mọi sóng gió toàn cầu. Thế nhưng [âm nhạc] sự tự tin thái quá đó lại chính là liều thuốc mê độc hại nhất. Nguồn gốc dòng tiền [âm nhạc] dư chấn từ hiệp định Plaza 1985. Để hiểu tại sao tiền lại chảy ồ ạt vào châu Á như thác lũ trong thập niên 1990 thì chúng ta bắt buộc phải quay ngược thời gian về ngày 22 tháng năm 1985 tại khách sạn Plaza ở New York. Thời điểm đó thì Mỹ đang chịu thâm hồ thương mại nặng nề, đặc biệt là với Nhật Bản. Nhóm năm nền kinh tế lớn nhất thế giới lúc bấy giờ là nhóm G5 gồm có Mỹ, Nhật, Tây Đức, Pháp và Anh đã cùng nhau ký kết hiệp định Plaza. Mục đích cốt lõi của hiệp định này là can thiệp vào thị trường ngoại hối để làm suy yếu đồng đô la Mỹ và ép đồng yên Nhật cùng với đồng MC Đức phải tăng giá mạnh. Sau hiệp định, đồng yên Nhật tăng phi mã so với USD. Đồng tiền nội tệ quá mạnh đã giá một đòn nặng nề vào các tập đoàn xuất khẩu Nhật Bản, đẩy chi phí nhân công và giá thành sản xuất trong nước lên mức đắt đỏ chưa từng thấy. Đứng trước bờ vực mất sức cạnh tranh toàn cầu, các doanh nghiệp Nhật Bản buộc phải tìm lối thoát. Họ dịch chuyển dây truyền sản xuất và đẩy dòng vốn đầu tư trực tiếp FDI ra nước ngoài. Và điểm đến lý tưởng nhất không đâu khác chính là các nước Đông Nam Á lân cận. Khu vực này khi đó thì hội tụ đầy đủ những yếu tố về thiên thời, địa lợi, nhân hòa. Nó có vị trí chiến lược, nằm trên các tuyến hàng hải huyết mạch, có dân số trẻ dồi rào, có chi phí nhân công siêu rẻ và có môi trường chính trị tương đối ổn định. Chỉ trong một thời gian ngắn, hơn 15 tỷ đô la vốn đầu tư Nhật Bản thời điểm đó đã ồ ạt đổ vào Thái Lan, Malaysia và Indonesia. [âm nhạc] Dòng tiền này thì đã thổi bùng lên một giai đoạn bùng nổ sản xuất, xây dựng nhà máy, kích hoạt sự phát triển sôi động chưa từng có trên khắp Đông Nam Á. Trước bẫy tự do hóa tài chính và bộ ba bất khả thi. Thấy dòng tiền ngoạn đổ vào mang lại sự phồn vinh nhanh chóng, chính phủ các nước Đông Nam Á bắt đầu nôn nóng, muốn đẩy nhanh tốc độ hơn nữa. Họ nghĩ rằng [âm nhạc] tại sao chỉ dừng lại vốn FDI sản xuất nhỉ? Trong khi chúng ta có thể mở toang cánh cửa tài chính để hút hàng trăm tỷ đô la dòng vốn gián tiếp từ phố World và châu Âu cơ mà. Và thế là vào giai đoạn đầu thập niên 1990, một làng sóng tự do hóa tài chính vội vã đã diễn ra khắp khu vực. Các rào cản kiểm soát vốn bị dỡ bỏ. Các ngân hàng nước ngoài được tự do thâm nhập sâu vào hệ thống tài chính nội địa. Thái Lan thậm chí còn thành lập cơ sở ngân hàng quốc tế Bangkok vào năm 1993 nhằm tạo ra một hành lang thông thoáng tối đa để các ngân hàng và các doanh nghiệp trong nước vay mượn USD từ nước ngoài một cách dễ dàng nhất. và kết quả đúng là vượt ngoài mong đợi. Giai đoạn từ 1990 đến 1997, dòng vốn tư nhân toàn cầu đổ vào khu vực Đông Á và Đông Nam Á tăng vọt gấp hơn 5 lần. Từ 42 tỷ đô la nhảy vọt lên 256 tỷ đô la, chiếm tới 60% tổng dòng vốn đầu tư và các thị trường mới nổi trên toàn thế giới. Thế nhưng cái sai lầm mang tính cấu trúc chí mạng bắt đầu xuất hiện từ đây. Chính sách neo tỷ giá cố định và đồng đô la Mỹ. Để thu hút những nhà đầu tư nước ngoài và trấn an họ rằng không có rủi ro khi rót tiền vào thị trường mới nổi, Ngân hàng Trung ương Thái Lan đã đưa ra một lời hứa vàng son, đấy là neo cứng đồng bạc ở mức xấp xỉ 25 bạc đổi 1 đô la trong suốt hàng chục năm. Chính sách này đã tạo ra một kẽ hở đầu cơ kinh điển mang tên là [âm nhạc] giao dịch chênh lệch lã suất Krycha. Cụ thể như sau, tại Mỹ lã suất vay USD chỉ ở mức thấp là khoảng từ 3% đến 6% năm. Còn tại Thái Lan, để kiềm chế lạ phát và hút vốn thì lã suất tiền gửi nội tệ lại được duy trì ở mức cao ngất ngưng là từ 8% đến 12%/ năm. Và do tỷ giá bị giữ cố định ở mức 25 bạc trên 1 đô. Những nhà đầu tư nước ngoài, các ngân hàng và các doanh nghiệp nội địa họ nhận ra một cái cỗ máy in tiền hoàn [âm nhạc] hảo. Họ sẽ vay USD giá rẻ từ Mỹ hoặc là Châu Âu. Rồi họ chuyển sang Thái Lan đổi thành đồng bạt để gửi ngân hàng hoặc là cho vay lại với mức lã suất cao. Khi đến hạn thì họ lại đổi bạt lấy USD để trả nợ gốc và bỏ túi cái phần chênh lệch lã suất khổng lồ mà hoàn toàn không lo sợ rủi ro mất giá tiền tệ. Đây là một cái vòng lặp tự xác. Khi dòng vốn ngoại ồ ạt đổ vào đổi lấy bạt, ngân hàng trung ương Thái Lan buộc phải in thêm bạt và mua gom USD vào giữ trữ để mà giữ cho tỉ giá không tăng đúng không? Cùng tiển nội địa thì phình to khiến lạ phát bắt đầu tăng cao. Để chống lạ phát, Thái Lan lại phải tăng lã suất. Mà lã suất càng cao thì lại càng kích thích dòng vốn nóng đầu cơ đổ vào mạnh hơn nữa. Và thế nào Thái Lan đã tự mình bước vào một cái bẫy mang tên bộ ba bất khả thi trong kinh tế học vĩ mô. Cái định lý này thì nó chỉ ra rõ như sau. Một quốc gia không bao giờ có thể duy trì đồng thời cả ba yếu tố. Một đấy là dòng vốn luân chuyển hoàn toàn tự do. Hai là tỷ giá hối đoái cố định. Cái này rất quan trọng. Và thứ ba đấy là chính sách tiền tệ độc lập. Bạn chỉ được chọn tối đa hai trong ba thôi. Nhưng Thái Lan và các nước Đông Nam Á khi đó lại tham lam muốn nắm giữ cả ba. Họ vừa mở cửa cho vốn ngoại tự do ra vào, vừa neo cứng tỉ giá, lại vừa muốn tự do điều chỉnh lã suất để kiểm soát lạm phát và cố giữ cả ba. Nó chỉ dẫn tới một kết cục duy nhất, đấy là hệ thống sụp đổ, bong bóng tài sản và ngòi nổ bất động sản. Và khi mà hàng trăm tỷ đô la nó chảy vào một nền kinh tế vốn có quy mô hấp thụ quá bé thì dòng tiền đó nó sẽ chảy đi đâu? Đáng tiếc thay, nguồn vốn khổng lồ này phần lớn thì không được đổ vào nghiên cứu công nghệ, nâng cao năng suất hay là xây dựng nền tảng sản xuất chiều sâu mà thay vào đó nó chảy thẳng vào hai cái lĩnh vực đầu cơ béo bở nhất, sinh lở nhanh nhất thế nhưng cũng rủi ro nhất. Đấy là thị trường chứng khoán và bất động sản. Từ năm 1990 đến năm 1995, tín dụng đổ vào lĩnh vực bất động sản tại Thái Lan đã tăng trưởng với tốc độ điên cuồng là 41%/ên m năm. Nó vượt xa tốc độ tăng trưởng tín dụng chung của cả nền kinh tế là chỉ 33%. Các tòa tháp văn phòng, các khu chung cư cao cấp, các dự án nghỉ dưỡng sân gố mọc lên như nấm mưa khắp Bang Cốc. Tâm lý của đám đông bị dẫn dắt bởi niềm tin mù quáng rằng giá đất ở châu Á sẽ còn tăng mãi. Người dân vay tiền mua nhà, giới nhà giàu thì vay tiền lướt sóng đất, doanh nghiệp cũng vay tiền gom quỹ đất. Các ngân hàng thương mại và công ty tài chính cũng hùa theo cuộc chơi này. Họ nới lỏng toàn bộ tiêu chuẩn thẩm định tín dụng, sẵn sàng giải ngân hàng nghìn tỷ bạt. Với tài sản thế chấp chính là những mảnh đất bị thổi giá trên trời. Cái bẫy chết người nằm ở chỗ. Bất động sản là tài sản nội địa phi thương mại. Nó không thể xuất khẩu để thu về USD. Trong khi nguồn tiền tà trợ cho nó lại là các khoản vay nợ ngắn hạn bằng ngoại tệ USD. Một cái vòng xoáy ảo tưởng được dựng lên đó là vay USD ngắn hạn rồi đổi ra bạt rồi thì bơm vào đất rồi thì khiến giá đất tăng dẫn đến định giá tài sản tăng rồi thì lại vay thêm nợ mới để trả nợ cũ và cả nền kinh tế ngồi trên một cái quả bom nổ chậm khổng lồ chỉ chờ một cơn gió nhẹ để phát nổ điểm bùng phát và cú sập kinh hoàng năm 1997 bước sang đầu năm 1997 những vết nứt nghiêm trọng của nền kinh tế Thái Lan bắt đầu lộ rõ cán cân thương mại thâm hụt nặng nề nhập siêu 1,5 tỷ đô la do đồng bạt neo theo USD bị định giá quá cao khiến cho hàng xuất khẩu mất sức cạnh tranh thâm hụt cán cân thanh toán thì lên tới 14,7 tỷ đô la dự chữ ngoại hối chỉ còn khoảng 30 tỷ đô trong khi tổng nợ nước ngoài ngắn hạn phải trả trong vòng 1 năm đã vượt quá 140% dự chững ngoại hối. Có lã xuất lên ngân hàng thì bị đẩy lên mức nghẹt thở là gần 13%. Nhận thấy cái tử huyệt chí mạng này, các cá mập đầu cơ tài chính quốc tế đứng đầu là kỹ Quantum Fun của Jor Soros đã đánh hơi thấy mùi máu. Họ nhận ra rằng ngân hàng trung ương Thái Lan hoàn toàn không có đủ USD để bảo vệ tỷ giá nham bạt trên một USD nếu xảy ra một đợt rút vốn quy mô lớn. Tháng 5 năm 1997, Soros cùng với các quỹ đầu cơ phát động cuộc tổng tấn công. Chiến thuật của họ cực kỳ đơn giản nhưng vô cùng tản bạo. Họ vay hàng tỷ bạt từ các ngân hàng qua các hợp đồng kỳ hạn. Sau đó thì ồ xả bán đồng bản trên thị trường ra ngay để gom mua USD. Cái hành động bán tháo ô này nó tạo ra một cái làn sóng hoảng loạn cực độ. Những nhà đầu tư nước ngoài và chính doanh nghiệp Thái Lan cũng hốt hoảng bán tháo bạt để mua USD tẩu tán tài sản. Để giữ lời hứa tỷ giá cố định, Ngân hàng Trung ương Thái Lan đã lao vào một canh bạc sinh tử. Họ liên tục tung giữ trên ngoại hối USD ra để mua lại chính đồng bạt bị bán tháo nhưng có vẻ họ chưa nhận ra sức nghiêm trọng của vấn đề. Và chỉ trong có vài tuần ngắn ngủi, Thái Lan đã đốt sạch gần hết quỹ ngoại tệ dự trữ thực tế, chỉ còn lại những hợp đồng kỳ hạn rỗng ruột. Ngày mùng 0 tháng năm 1997, không còn một đồng USD nào để tiếp tục can thiệp. Ngân hàng trung ương Thái Lan khi này đã bắt đầu phải dương cờ trắng đầu hàng. Họ chính thức tuyên bố từ bỏ cơ chế, neo tỉ giá và thả nổ đồng bạt sau hơn 40 năm gắn chặt với USD. Và nó sinh ra một cái hệ quả tức thì. Chiếc đập ngăn lũ đã vỡ tung, đồng bạt rơi tự do không phanh. Từ mức 25 bạt trên 1 đô, nó lao dốc thảm hại xuống mức đáy lịch sử là 56 bạ trên 1 đô. Tức là bốc hơi hơn 50% giá trị. Đấy, thảm họa nổ ra. Các doanh nghiệp Thái Lan trước đây vay 1 tỷ đô la chỉ phải trả 25 tỷ bản. Nay thì khoản nợ bỗng chốc nhân đôi lên 56 tỷ bạt. Trong khi doanh thu bằng bạt thì gì ạ? Nó không đổi. Và thế là hàng loạt những tập đoàn vỡ nợ. Hơn 58 công ty tài chính lớn nhất Thái Lan tuyên bố phá sản hàng loạt. Hệ thống ngân hàng tê liệt thị trường chứng khoán sụp đổ hoàn toàn. Vết dầu loang toàn cầu. Cú sập tại Bangkok không dừng lại ở biên giới Thái Lan. Nó kích hoạt hiệu ứng domino tàn khốc nhất lịch sử hiện đại. Nó quét qua toàn bộ các nền kinh tế mới nổi. Những quý đầu tư quốc tế hoảng sợ nhận ra rằng các quốc gia châu Á khác cũng có mô hình kinh tế tương tự Thái Lan. Đấy là nợ ngắn hạn bằng USD rất cao. Tỷ giá thì neo cố định và bong bóng tài sản. Bất động sản thì phình to. Một làn sóng tháo chạy vốn chưa từng có đã diễn ra. Chỉ trong vòng có vài tháng, hơn 50 tỷ đô la vốn tư nhân bị rút sạch khỏi Đông Á. Ở Indonesia. Đồng Rupia sụp đổ tồi tệ nhất. Nó mất hơn 80% giá trị. Nền kinh tế nước này rơi vào sự hỗn loạn, lạ phát tăng phi mã, đẩy giá lâng thực lên tận trời xanh dẫn đến cuộc bạo loạn đường phố đẫm máu và lật đổ chế độ tổng thống SHO sau hơn 30 năm cầm quyền. Còn ở Hàn Quốc, nền kinh tế lớn thứ 11 thế giới đứng bên bờ vực vỡ nợ quốc gia khi đầu mất giá thảm hại. Dự chữ ngoại hối cạn kiệt, hàng loạt ceb khổng lồ như là HBO Steel, [âm nhạc] Kia Moto sụp đổ kéo theo toàn bộ hệ thống tài chính quốc gia tê liệt. Còn Malaysia, Philippines, Hồng Kông, tất cả đều bị tấn công tiền tệ dữ dội. Thị trường chứng khoán giảm từ 50% đến 70%. Hàng triệu người thuộc tầng lớp trung lưu bỗng chốc mất trắng toàn bộ tài sản, nhà cửa thì bị ngân hàng tịch thu, tỷ lệ thất nghiệp cũng tăng vọt. Cần điệu chấn này nó còn lan rộng tới phạm vi toàn cầu cơ, dẫn tới cuộc khủng hoảng nợ công và vỡ nợ đồng đốp của Nga vào năm 1998, đánh sập quỹ đầu cơ huyền thoại phố World Long Term Capital Managestment và đẩy nền kinh tế Brazil vào suy thoái nặng nề. Và thế là phép màu châu Á rực rỡ chỉ sau có một đêm thôi đã biến thành vũng cho tàn đổ nát. Ai là kẻ thực sự hưởng lợi nhiều nhất? Khi cơn bão quét qua để lại hàng triệu mảnh đời tan nát thì câu hỏi g dứt và cay đắng nhất được đặt ra trên khắp các diễn đản chính trị toàn cầu. Ai là kẻ đã châm ngòi và ai là người đã thu hoạch nhiều nhất từ đống đổ nát này? Thuyết âm ưu hãy là một cuộc săn mổi có tổ chức. Đối với những nhà kinh tế học chính thống phương Tây, cuộc khủng hoảng năm 1997 được lý giải một cách vô cùng khách quan. Đó chỉ là sự trừng phạt tất yếu của cơ chế thị trường tự do đối với những sai lầm vĩ mô, tình trạng quản trị yếu kém và chủ nghĩa tư bản thân hữu tại Châu Á. Thế nhưng tại các quốc gia bị tàn phá, người ta không thể không đặt ra những giả thuyết gai góc hơn. Liệu có một bàn tay vô hình đứng đằng sau giật dây không? Liệu đây có phải là một cuộc chiến tranh tiền tệ được tính toán kỹ lưỡng? nhằm bẻ gãy sức mạnh chỗ dậy của những con hổ châu Á, ngăn chặn khu vực này thách thức vị thế báo chủ kinh tế của phương Tây. Đứng giữa tâm bão của mọi lời cáo buộc chính là Jor Soros, ông trùm của quỹ đầu cơ quan thường phân, người từng được mệnh danh là kẻ đánh sập ngân hàng Anh trong sự kiện thứ tư đen tối năm 1992. Lời buộc tội, sự phủ nhận và toan tính địa chính trị tại hội nghị thượng đỉnh Ngân hàng Thế Giới và IMF diễn ra tại Hồng Kông vào tháng 9 năm 1997. Thủ tướng Malaysia lúc bấy giờ là ông Mahatthi Mohamed đã có bài phát biểu đanh thép gây chấn động toàn cầu. Ông Mahathi công khai chỉ đích danh Jor Soros và các quỹ đầu cơ phương tây là những kẻ vô đạo đức là thủ phạm trực tiếp tạo ra thảm họa tài chính để trục lợi trên mồ hôi nước mắt của hàng chục triệu người dân nghèo châu Á. Ông cá buộc rằng các quỹ này đã tích lũy khối tài sản khổng lồ chỉ bằng một vài cú nhấp chuột đầu cơ tiền tệ phá hủy thành quả xây dựng đất nước suốt 40 năm của cả khu vực. Phản bác lại thì J Soros khẳng [âm nhạc] định rằng ông ta và quỹ của mình không hề gây ra khủng hoảng. Soros lập luận rằng thị trường tài chính vận hành theo quy luật khách quan. Khi một hệ thống xuất hiện lỗ hổng cấu trúc nghiêm trọng, những nhà đầu cơ xuất hiện chỉ như những con kiền kiền dọn rác giúp phơi bày sự thật và điều chỉnh lại sự mất cân bằng. Soros thừa nhận mình đã kiếm được hàng tỷ đô la lợi nhuận. Thế nhưng ông cho rằng đó là phần thưởng cho việc ông nhìn ra quy luật sớm hơn người khác. Và sự sụp đổ của châu Á chỉ là dấu hiệu báo trước cho một cuộc khủng hoảng mang tính hệ thống của mô hình tư bản toàn cầu. Vậy thì yếu tố địa chính trị có đóng vai trò gì không? Cũng có nhiều nhà phân tích nhắc lại một chi tiết đáng chú ý đấy là cũng chỉ đúng 2 tháng trước khi cuộc khủng hoảng bùng nổ vào tháng 5 năm 1997 ASEAN đã bất chấp sự phản đối gay gắt từ Washington và Brooken để chính thức kết nạp Myanmar quốc gia đang chịu lệnh trừng phạt nặng nề của phương Tây. Có một số giả thuyết cho rằng là cú sập kinh tế là đòn trừng phạt điện chính trị nhằm gian nee các nước Đông Nam Á. Tuy nhiên thì nếu phân tích sâu sắc dưới góc độ kinh tế và lịch sử, [âm nhạc] giả thuyết trừng phạt chính trị kiểu này nó chưa đủ sức thuyết phục tuyệt đối. Chế độ quân sự Myanmar đã tồn tại từ năm 1962 và phương Tây thì họ có hàng tá công cụ cấm vận trực tiếp thay vì phải kích hoạt một cái cuộc khủng hoảng tài chính có nguy cơ làm rung chuyển cả hệ thống ngân hàng toàn cầu, thậm chí là cả chính họ. Bức tranh săn mồi khi hổ non rơi vào cái bẫy ba tầng. Và dù có thuyết âm mưu hay không thì thực tế nó diễn ra trên thị trường cho thấy một cái kịch bản săn mồi ba tầng vô cùng hoàn hảo mà những con hổ châu Á non nớt không tải nào thoát ra khỏi. Tầng thứ nhất người mở đường các quỹ đầu cơ. Jor Soros, Julian Robertson, quỹ Tiger Managestment cùng với các quỹ đầu cơ mạo hiểm bóng vai trò là những tay lính tiên phong. Họ tôm đòn bảy tài chính khổng lồ, chọc thủng bóng tiền tệ, kích hoạt làn sóng hoảng loạn, tháo chạy vốn và đánh sập tỉ giá hối đoán nội tệ. Tầng thứ hai, những xạ thổ hiểm trợ, đó là quỹ tiền tệ IMF và ngân hàng thế giới WB. Khi các quốc gia kiệt quệ, IMF xuất hiện như một vị cứu tinh với các gói cứu trợ hàng chục tỷ đô. Thế nhưng cái giá của sự cứu trợ này là vô cùng đắt đỏ. [âm nhạc] IMF áp đặt một cái gọi là Đồng Thuận Washington. Họ buộc các nước nhận viện trợ phải thắt lưng buộc bụng tuyệt đối, phải cắt giảm chi tiêu công, phải tăng vọt lã suất nội địa. Có lúc lên tới 30% đến 50% cơ. phải đóng cửa các ngân hàng yếu kém và quan trọng nhất là bắt buộc phải mở toang cửa thị trường cho phép các tập đoàn nước ngoài thâu tóm các doanh nghiệp nội địa lớn và tầng thứ ba những thợ săn thu hoạch các tập đoàn đa quốc gia phương tây chính sách tăng lã suất và thắt chặt tín dụng của đã biến những doanh nghiệp châu Á dù là có nền tảng sản xuất tốt đấy nhưng mà thiếu thanh khoản ngắn hạn thì cũng phải phá sản hàng loạt một cái tình cảnh vô cùng bi đát đẫm nước mắt khi mà giá trị tài sản của châu rơi xuống cái mức đồng nát. Những tập đoàn đa quốc gia phương Tây cầm sẵn cả núi tiền mặt chỉ việc thong dong bước vào và mua lại các tập đoàn đầu ngành với mức giá rẻ như tro. [âm nhạc] Hiểu nô na là giới tài phiệt phương tây với những cái trò ảo thuật tài chính đã ép chết được những doanh nghiệp làm ăn thật, sản xuất thật và qua trò định giá đã sở hữu họ với mức giá rẻ [âm nhạc] mạt. Danh sách những kẻ thắng cuộc thực sự sau năm 1997. Hãy nhìn vào những thương vụ thâu tóm lịch sử sau năm 1997 để thấy được ai mới là người hưởng lợi cuối cùng. BMP Paras đây là ngân hàng khổng lồ của Pháp. Họ đã nhanh chóng thâu tóm mảng mô giới và ngân hàng đầu tư của Perry Green Investment Holding. Đây là tập đoàn tài chính độc lập lớn nhất châu Á thời điểm đó. Sau khi mà Pere Green sụp đổ về các khoản nợ xấu tại Indonesia. Tiếp theo là hãng General Motor, tập đoàn xe hơi số 1 của nước Mỹ đã nuốt chừng mảng sản xuất xe hơi của tập đoàn Dau Motor của Hàn Quốc với một cái mức giá quá rẻ mạt sau khi mà đế chế Dayu với khoản nợ 80 tỷ đô la sụp đổ hoàn toàn. Tiếp theo là tập đoàn PNG, tập đoàn hàng tiêu dùng khổng lồ của Mỹ. Họ đã chi tiền mà thâu tóm toàn bộ mảng kinh doanh giấy lừng danh của Sangjong Paper của Hàn Quốc. Tiếp theo thì phải kể đến Prinal Security. Họ nhanh chóng nhảy vào kiểm soát và thâu tóm công ty chứng khoán [âm nhạc] và tài chính hàng đầu của Thái Lan là Nava Finance and Security. Ngay trong đợt thanh lý tài sản nợ và những nhà đầu tư phương Tây đã mua được những nhà máy hiện đại nhất, những dây truyền công nghệ tối tân nhất và những cái mạng lưới phân phối béo bở nhất châu Á với mức chết khấu từ 50% đến 80% so với giá trị thực trước khủng hoảng. Kinh hoàng không? Cô máy tự động hay bàn tay của các siêu cường? Rốt cuộc thì liệu có một tổng công trình sư duy nhất nào đứng sau điều hành toàn bộ các cuộc đi săn này hay không? Câu trả lời chân thực và sắc bén nhất tới góc độ tài chính hiện đại đấy là chẳng cần thiết phải có một kẻ chủ mưu duy nhất đâu. Bởi vì chính hệ thống tài chính tư bản tự do toàn cầu hóa đã được thiết kế nó như một cỗ máy tự động hoàn hảo vậy. Trong cỗ máy đó thì dòng tiền vận hành thuần túy theo quy luật tối đa hóa lợi nhuận và đào thải kẻ yếu. Nơi nào mở cửa nhưng thiếu lá chắn hiệu quả về quản trị thì dòng tiền nó sẽ ồ ạt chảy vào thổi phồng băng bóng lên để kiếm lời nhanh. Nơi nào bộc lộ điểm yếu cấu trúc, các quỹ đầu cơ nó sẽ tự động la vào sâu xé để kiếm lợi nhuận từ sự sụp đổ. Và khi một khủng hoảng nổ ra, các định chế tài chính quốc tế áp đặt luật chơi phục vụ cho lợi ích của các nước phát triển. Và cuối cùng thì các tập đoàn tư bản lớn nhất sẽ bước vào và dọn dẹp chiến trường và thu gom tài sản giá rẻ. Những nền kinh tế mới nổi nếu quá ngây thơ, mở toang cửa tài chính mà không trang bị nộ lực và công cụ phòng vệ đủ mạnh thì sẽ mãi mãi chỉ là những con mồ béo bở trên bàn cờ của các thế lực tài chính lõi. Tái sinh sau địa chấn tài chính, bản lĩnh của những kẻ sống sót. Cuộc khủng hoảng tài chính năm 1997 là một vết thương hằn sâu vào da thịt của hàng triệu gia đình châu Á. Thế nhưng lịch sử thì đã chứng minh rồi, sức mạnh thực sự của một dân tộc không được đo bằng việc họ đứng vững bao lâu trong thời kỷ hoàng kim mà được đo bằng cách họ gượng dậy mạnh mẽ như thế nào từ đống cho tàn, đống đổ nát và sự thức tỉnh bản lĩnh. Sau cơn bão tài chính, các quốc gia châu Á không còn đắm chìm trong những ảo tưởng về sự giàu sang dễ dãi. Họ nhận ra rằng là không có bất kỳ một phép màu nào từ bên ngoài cả và cũng chẳng có định chế quốc tế nào thực làm cứu vớt họ mà không đòi hỏi những cái giá cắt cổ. Con đường duy nhất để tồn tại và bảo vệ chủ quyền kinh tế là phải tự vực dậy bằng kỷ luật thép, phải tái cấu trúc triệt để từ gốc dễ và tinh thần tự lực tự cường. Hai con đường tái sinh kinh điển. Mỗi quốc gia thì họ đã chọn cho mình một chiến lược phục hồi mang đậm bản sắc và năng lực cốt lõi. Đầu tiên thì phải là Thái Lan, một cuộc đại phẫu thuật không gây mê. Là tâm chấn của cô khủng hoàng, Thái Lan đã chọn con đường đau đớn nhất nhưng thực tế nhất đấy là chấp nhận phẫu thuật toàn bộ hệ thống tài chính. Đầu tiên thì họ chấp nhận cắt bỏ khối u. Chính phủ của họ kiên quyết đóng cửa vĩnh viễn [âm nhạc] hơn 50 công ty tài chính yếu kém, xử lý hàng núi nợ xấu mà không dùng ngân sách cứu trợ bừa bãi. Họ chấp nhận bán rất rẻ nhiều tài sản công và doanh nghiệp nhà nước cho các đối tác ngoại để đổi lấy thanh khoản USD, giữ cho quốc gia không bị cô lập khỏi dòng trải thương mại quốc tế. Tiếp theo thì họ cũng tận dụng cú hích mất giá tiền tệ để bứt phá về mảng xuất khẩu. Nhận thấy đồng bạt mất giá tới 50% nó cũng là một cái loại vũ khí hủy diệt về mặt giá thành trên thị trường quốc tế. Thái Lan đã tái định hướng toàn bộ nền kinh tế sang sản xuất khẩu thực chất. Kiểu con dao hai lưỡi với nông nghiệp và chế biến thực phẩm, họ đẩy mạnh hiện đại hóa nông nghiệp và đưa Thái Lan trở thành cường quốc xuất khẩu gạo và nông sản số 1 thế giới. Về mảng công nghiệp phụ trợ và lắp ráp, họ tận dụng triệt để dò vốn FDI mới, đầu tư mạnh vào cơ sở hạ tầng khu công nghiệp bờ biển phía đông, từng bước biến Thái Lan thành trung tâm sản xuất linh kiện điện tử và lắp ráp ô tô hàng đầu khu vực. Và sau này được mệnh danh là Detroit của Đông Nam Á. Nỗi đau ngắn hạn của việc thắt lưng buộc bụng đã đặt nền bóng vững chắc cho một nền kinh tế Thái Lan có sức đề kháng cao hơn gấp nhiều lần. Câu chuyện tiếp theo thì là Hàn Quốc, sức mạnh của khối đạ đoàn kết và phép màu thứ hai trên sông Hán. Nếu Thái Lan chọn cách chấp nhận đau đớn cắt bỏ thì Hàn Quốc họ lại tạo nên một cái bản Anh hùng ca về tinh thần đoàn kết, chiến dịch quyên góp vàng để cứu quốc, đổi vàng lấy world. Khi quốc gia của họ đứng trước nguy cơ vỡ nợ, đã có hơn 3,5 triệu người Hàn Quốc từ các cụ già, em nhỏ, công nhân cho tất cả những ngôi sao thể thao, nghệ sĩ đã xếp hàng dài dưới trở tuyết lạnh, tự nguyện mang nhẫn cưới, dây chuyển kỷ vật bằng vàng của gia đình ra nộp cho ngân hàng nhà nước. Tổng số vàng quyên góp được trị giá hơn 2 tỷ đô la. Dù con số này thì nó cũng chỉ chiếm khoảng 4% tổng số nợ mà chính phủ Hàn Quốc vay từ AMF. nhưng mà nó cũng tạo ra một cái cú sốc tâm lý cực lớn trên toàn cầu. Các chủ nợ quốc tế nhận thấy một dân tộc có tinh thần kỷ luật và có ý chí quật cường đến mức mà không một thế lực tài chính nào có thể đánh bại. Tiếp theo thì là cuộc đại phẫu thuật với các chô. Chính phủ của tổng thống Kim Đê Dung đã thẳng tay ép các tập đoàn gia đình chị chê bô phải tá cấu trúc lại toàn diện. Nguyên tắc quá lớn để sụp đổ đã bị xóa bỏ. Hàn loạt các chơ bô làm ăn kém hiệu quả bị giải thể. Những chôn sống sót như là Samsung, Hyundai, LG thì buộc phải cắt bỏ các ngành nghề kinh doanh ngoài cốt lõi để tập trung toàn bộ nguồn lực vào nghiên cứu và phát triển cho các lĩnh vực công nghệ cao như là chất bán dẫn, màn hình tinh thể lỏng, viễn thông, ô tô và cả văn hóa giải trí với đảo sóng Hari, Kpop và điện ảnh. Và kết quả rất kỳ diệu. Chuyển đúng 1 năm sau khủng hoảng, tăng trưởng GDP của Hàn Quốc từ mức âm đã bật tăng ngoạn mục lên mức hai con số vào năm 1999. Và đến năm 2001, Hàn Quốc đã trả sạch toàn bộ khoản nợ 58 tỷ đô la cho IMF trước thời hạn 3 năm và chính thức bước vào hàng ngũ các quốc gia phát triển, có nền công nghệ hàng đầu thế giới. Bài học thể chế và sự thức tỉnh toàn cầu. Biến cố năm 1997 đã buộc cả châu Á nơi các định chế phương Tây phải định hình lại toàn bộ tư duy quản trị kinh tế. Đầu tiên là đương nhiên rồi, họ phải từ bỏ cái cơ chế neo tỷ giá mù quáng. Các quốc gia châu Á đã vĩnh viễn từ bỏ chính sách tỷ giá cố định cứng nhắc, chuyển sang cơ chế tỉ giá thả nổi có quản lý. Họ để đồng tiền tự do biến động theo cung cầu thị trường, đóng vai trò như là một chiếc van giảm sóc tự nhiên [âm nhạc] cho nền kinh tế mỗi khi mà có cú xốc từ bên ngoài. Đồng thời thì triệt tiêu hoàn toàn kẽ hở cho các quỹ đầu cơ carry ch. Tiếp theo là xây dựng pháo đài dự chữ ngoại hối. Các nước Châu Á thì nhận ra rằng là chắn an ninh quốc gia vững chắc nhất trong thời đại tài chính toàn cầu chính là một quỹ dự trữ ngoại hối dồi rào. Và thế là kể từ sau năm 1997, châu Á đã trở thành khu vực tích lũy dự chữ ngoại hối lớn nhất hành tinh. Và tiếp theo là cũng là sự cải tổ tư duy từ phía [âm nhạc] IMF. Sau khi bị cả thế giới chỉ trích dữ dội vì những cái đơn thuốc thắt lưng buộc bụng mang tính áp đặt và rất tàn nhẫn thì đến IMF cũng phải một cải tổ lại sâu rộng. Bước sang thế kỷ 21 này, các gói hỗ trợ của IMF cũng đã linh hoạt hơn. Họ cho phép các quốc gia tái cơ cấu nợ mềm dẻo hơn và khuyến khích gia tăng chi tiêu an sinh xã hội trong thời kỳ khủng hoảng. Giá trị của sự trưởng thành từ đau thương. Ba thập kỷ đã trôi qua kể từ mùa hè rực lửa năm 1997. Bức tranh kinh tế thế giới đã có rất nhiều thay đổi. Thế nhưng bài học từ cuộc khủng hoảng tài chính châu Á vẫn còn nguyên giá trị mang tính thời đại. Nó nhắc nhở chúng ta về một chân lý bất biến. Sức mạnh thực sự của một nền kinh tế. Nó không nằm ở những con số tăng trưởng hào nhoáng nhất thời, cũng không nằm ở những tòa nhà chọc trời được xây bằng tiền nợ mà nằm ở nội lực sản xuất thực tế, ở kỷ luật tài chính nghiêm ngặt và năng lực tự chủ trước những cơn bão tài chính toàn cầu. Thái Lan đã chấp nhận nỗi đau phẫu thuật để trở thành trung tâm sản xuất công nghiệp và nông nghiệp kiên cường. Hàn Quốc thì cũng biến hiểm nguy thành chất keo đoàn kết dân tộc để vươn lên thành cường quốc công nghệ của thế giới. Những quốc gia từng là nạn nhân gục ngã năm đó không hề biến mất khỏi bản đồ kinh tế. Họ đã đứng dậy bằng chính đôi chân của mình, dạn dĩ hơn, khôn ngoan hơn và bản lĩnh hơn gấp bội. Bởi vì trong thế giới tài chính đầy cạm bẫy và khốc liệt, thất bại không phải là dấu chấm hết. Thất bại đau đớn nhất chính là điểm khở đầu vĩ đại nhất cho sự trưởng thành của một dân tộc. Mình đang phát triển một kênh thứ hai của The Hidden Team, đó là kênh The Hidden P, nơi sẽ có những hành trình đầy góc khuất. Đây là nơi sẽ có những câu chuyện lịch sử hấp dẫn [âm nhạc] được kể lại với giọng văn, các cách kể chuyện thú vị, ly kỳ nhất. Ở đó sẽ có những câu chuyện về lịch sử Việt Nam trong playlist Đại Việt [âm nhạc] sử ký. Những câu chuyện về lịch sử Trung Quốc trong playlist Trung Hoa sử ký và những câu chuyện về tiểu thuyết trong Kiếm Vũ Phong Vân. Nếu bạn quan tâm tới những nội dung này [âm nhạc] thì mình hy vọng sẽ được mọi người ủng hộ, ghé qua và để lại một lượt subscribe cũng như xem qua video bên kênh mình. Cảm ơn mọi người rất nhiều. M.