Kinh tế vĩ mô & Tiền tệ ~16 phút đọc

Đỉnh lãi suất là đáy tài sản: Cơ chế đảo chiều dòng tiền và bài toán dò đáy

Vì sao đỉnh của lã suất lại thường là đáy của nhiều loại tài sản? Nếu để ý các chu kỳ kinh tế, bạn sẽ thấy có một hiện tượng rất là thú vị.

1. Bề nổi của con số và thực trạng dòng tiền

Vì sao đỉnh của lã suất lại thường là đáy của nhiều loại tài sản? Nếu để ý các chu kỳ kinh tế, bạn sẽ thấy có một hiện tượng rất là thú vị.

Khi mà lã suất ngân hàng lên mức cao nhất cũng là lúc mà rất nhiều loại tài sản như là bất động sản, chứng khoán hay thậm chí là một số loại hàng hóa đang ở vùng giá thấp.

Ngược lại thì khi mà lã suất xuống rất thấp thì giá của tài sản lại thường tăng mạnh. Vì sao lại có mối quan hệ như vậy?

Mình nghĩ là có rất nhiều người biết. Thế nhưng mà chưa chắc đã là ai cũng có thể giải thích một cách chi tiết và dễ hiểu đâu.

Chúng ta hãy cùng tìm hiểu trong tập podcast ngày hôm nay nhé. Lã suất là trọng lực của giá trị tài sản khi mà chi phí vốn thắt nghẹt dòng tiền.

Để hiểu được vì sao mà đỉnh của lã suất lại thường là đáy của các loại tài sản ấy thì trước hết chúng ta cần phải hiểu về bản chất thực sự của lã suất dưới một cái góc nhìn ở gần gũi.

Hãy tưởng tượng rằng nền kinh tế giống như là một cơ thể sống và dòng tiền nó chính là các vạch máu lưu thông để nuôi dưỡng cơ thể.

Trong hệ sinh thái này thì lã suất đóng vai trò chính là cái mức giá mà bạn phải trả khi mà đi mượn tiền của người khác. Khi tiền nhiều và rẻ, dòng máu lưu thông mạnh mẽ, cơ thể hoạt động sung mãn.

Nhưng khi mà lã suất cao, tiền trở nên khan hiếm và đắt đỏ hơn. Dòng máu đó thì nó bắt đầu có hiện tượng đông cứng lại.

Cơ chế tác động này nó diễn ra vô cùng tàn nhẫn và rõ dệt qua ba kênh lớn của nền kinh tế mà đầu tiên chính là kênh người tiêu dùng đại chúng.

Hãy lấy một ví dụ rất thực tế về thị trường bất động sản để thấy sức nặng của lã suất nhé. Khi nền kinh tế ở giai đoạn tiền rẻ, lã suất vay mua nhà chỉ duy trì ở mức khoảng 6% một năm đi.

Một gia đình trẻ hoàn toàn có thể tự tin vay ngân hàng 2 tỷ để mua một căn hộ. Với số tiền gốc và lãi phải trả ngân hàng nằm trong khả năng thu nhập của họ.

Tuy nhiên thì khi mà lạ phát ập tới và ngân hàng buộc phải kéo lã suất vọt lên mức đỉnh điểm là 12% năm hoặc là 14% năm đi thì câu chuyện lập tức đảo chiều.

Khoản tiền phải trả góp cho ngân hàng mỗi tháng bỗng chốc là tăng gấp đôi. Nó ăn mòn toàn bộ chi tiêu sinh hoạt của gia đình.

Lúc này thì người mua nhà thực tế sẽ lập tức rút lui vì không chịu nổi áp lực tài chính. Khi người mua không còn, nhu cầu hay còn gọi là lực cầu trên thị trường, nó sẽ sụp đổ.

Những người ôm đất, ôm nhà trước đó bằng tiền vay mượn bắt đầu sẽ ngược thở dần. Họ sẽ buộc phải hạ giá, cắt lỗ để giải thoát cho dòng vốn.

Và cứ thế thì giá bất động sản nó sẽ liên tục lao dốc cho tới khi chạm đáy. Chỉ vì mức lã suất quá cao đã bóp nghẹt sức mua của thị trường.

Kênh tác động thứ hai thì cũng tổn thương nặng nề không kém, chính là khối doanh nghiệp sản xuất dịch vụ. Doanh nghiệp thì muốn tồn tại được và phát triển thì gần như luôn phải sử dụng vốn vay để mà đầu tư vào nhà xưởng, máy móc, nguyên vật liệu hoặc là trả lương cho công nhân.

Khi mà chi phí vay vốn tăng quá cao, nó giống như là một cái kéo sắc bén, ăn mòn trực tiếp và biên lợi nhuận của doanh nghiệp ấy. Một dự án kinh doanh vốn dĩ rất tiềm năng khi mà lã suất thấp bỗng nhiên đã trở thành một cái gánh nặng nợ nần khi mà lã suất ở đỉnh.

Bà lãnh đạo doanh nghiệp bắt buộc phải rụt rè, không dám vay thêm tiền, thậm chí là phải thu hẹp quy mô sản xuất. Xa thải bớt nhân sự để đề phòng thủ rủi ro.

Khi mà các doanh nghiệp suy yếu, lợi nhuận sụt giảm, kỳ vọng của các nhà đầu tư vào tương lai của doanh nghiệp cũng tan vỡ theo. Trên thị trường chứng khoán, giá trị của một cổ phiếu về cơ bản được quyết định bởi sức khỏe và khả năng kiếm tiền của doanh nghiệp đó.

Khi dòng tiền của doanh nghiệp bị bóc nghẹt, các nhà đầu tư sẽ không còn sẵn sàng trả giá cao cho cổ phiếu nữa. Họ sẽ liên tục bán ra và đẩy định giá của toàn bộ thị trường chứng khoán xuống những cái vùng thấp.

Kênh tác động thứ ba mang tính quyết định đến dòng trảy của tiền chính là tâm lý ngồi mát ăn bát vàng của những người dân. Bản chất con người thì luôn là tìm kiếm sự an toàn và hiệu quả tối đa cho đồng tiền của mình đúng không?

Khi mà thị trường đầu tư như là chứng khoán, đất đai đang lao đao mà các ngân hàng lại tung ra mức lã suất tiết kiệm cực kỳ hấp dẫn lên tới 9% hay là 10% một năm thì một cái tâm lý chung sẽ xuất hiện là tại sao chúng ta phải chấp nhận rủi ro thức đêm ngủ không ngon để mà lo lắng cho các khoản đầu tư trong khi chỉ cần mang tiền gửi vào ngân hàng là chắc ăn đã nhận về một cái khoản lợi nhuận béo bở chẳng cần phải làm gì.

Lập tức thì một làn sóng rút vốn khổng lồ diễn ra trên toàn thị trường tài chính. Tiền từ ví của những nhà đầu tư cá nhân, tiền từ các quỹ ròng ròng chảy ra khỏi các tài sản rủi ro và sẽ bị hút sạch vào cái cái két sắt kiên cố của hệ thống ngân hàng.

Khi dòng tiền đầu cơ đã hoàn toàn biến mất, các thị trường tài sản sẽ rơi vào trạng thái thiếu máu nghiêm trọng, thanh khoản cạn kiệt và giá cả cứ thế mà lịm dần về vùng đáy.


2. Cơ chế in tiền, pha loãng nợ và kẻ phải trả giá ngầm

Như vậy thì mức lã suất ở đỉnh cao chót vót nó đã hoàn thành xứng mệnh làm nguộn lạnh nền kinh tế, ép toàn bộ các loại tài sản phải quy phục về giá trị thực, thậm chí là dưới giá trị thực của chúng.

Quy luật kỳ vọng và sự nhạy bén của tiền thông minh. Có một cái nghịch lý mà những người mới tham gia vào thị trường thường thắc mắc đó là tại sao khi một nền kinh tế xấu nhất, báo chí đưa tin ảm đạm nhất và lã suất thì đang ở mức cao nhất thì giá tài sản nó không giảm tiếp mà nó bắt đầu lầm nỗi đi lên.

Câu trả lời nó nằm ở bản chất cốt lõi của thị trường tài chính. Đó là một thị trường không bao giờ phản ánh những cái gì đang xảy ra ở thời điểm hiện tại mà nó phản ánh kỳ vọng của con người về những gì đang diễn ra trong tương lai.

Các nhà nghiên cứu kinh tế học thì đã chỉ ra rằng thị trường tài chính, đặc biệt là thị trường chứng khoán ấy, nó luôn đi trước nền kinh tế thực từ 6 tháng đến 9 tháng.

Khi bạn nhìn thấy các số liệu về kinh tế vĩ mô hiển thị trên mặt báo là vô cùng tồi tệ thì thực ra là thị trường đã tiêu hóa và nó phản ánh những cái tin tức đó vào giá từ rất lâu trước đó rồi.

Để hiểu vì sao mà đỉnh lã suất lại trùng với đáy tài sản thì chúng ta cần đặt mình vào vị trí của các ngân hàng trung ương. Họ nâng lã suất không phải là vì họ ghét bỏ thị trường mà đôi khi là vì bắt buộc phải kiềm chế con quái vật lạ phát để bảo vệ sức mua của đồng nội tệ.

Tuy nhiên thì y học có câu là thuốc bổ uống quá liều thì cũng thành thuốc độc. Khi mà lã suất bị duy trì ở mức đỉnh quá lâu thì nền kinh tế cũng sẽ bắt đầu ngấm đòn đau.

Các dấu hiệu của sự suy thoái thất nghiệp bắt đầu xuất hiện. Lúc này thì áp lực đè nặng lên vai các nhà điều hành chính sách.

Ai cũng hiểu rằng một khi lạm phát đã được kiểm soát và nền kinh tế có nguy cơ rơi vào khủng hoảng thì cái bước đi tiếp theo mang tính sống còn của ngân hàng trung ương chắc chắn sẽ là ngừng tăng và chuyển sang cắt giảm lã suất để mà giải cứu kích thích kinh tế tăng trưởng trở lại.

Và chính cái bước ngoặt tư duy này nó là chìa khóa mở ra sự đảo chiều của giá tài sản. Trên thị trường thì nó luôn tồn tại một nhóm người được gọi là dòng tiền thông minh.

Đây là các quỹ đầu tư lớn, các tỷ phú, các định chế tài chính sừng sỏ. Họ sở hữu những cái bộ óc phân tích vĩ mô hàng đầu và một cái lượng vốn khổng lồ.

Đặc điểm của dòng tiền thông minh là họ không bao giờ tham lam khi mà thị trường đã rõ ràng và họ thì cũng không đợi tới khi mà ngân hàng Trung ương thực sự đặt bút ký quyết định giảm lã suất thì mới mang tiền đi và mua tài sản.

Đối với họ thì chỉ cần nhận thấy những cái tín hiệu rõ ràng rằng chu kỳ tăng lã suất đã đi tới hồi kết, lạ phát đã được đạt đỉnh và lã suất thì nó không thể tăng thêm được nữa là họ đã bắt đầu hành động rồi.

Họ âm thầm lặng lẽ giải ngân. Góp nhặt những cái cổ phiếu tốt, những mảnh đất đắc địa đang bị bán tống bán tháo với mức giá rẻ mạt của những người cùng quẫn.

Trong khi dòng tiền thông minh đang âm thầm tích lũy tài sản thì ở phía ngược lại, hiệu ứng tâm lý đám đông tại vùng đáy lại diễn ra vô cùng bi thả.

Đây là thời điểm mà tâm lý sợ hãi bao trùm toàn bộ xã hội. Mọi tin tức xấu xuất hiện trên truyền thông đều mang một cái màu xám xịt.

Doanh nghiệp này phá sản, tập đoàn kia vỡ nợ, tỉ lệ thất nghiệp tăng cao, nợ số ngân hàng chạm mốc báo động vân vân. Người bình thường thì do không có tâm nhìn dài hạn và bị áp lực về tài chính bổ vây sẽ rơi vào trạng thái hoảng loạn tột độ.

Họ tin rằng nền kinh tế sẽ sụp đổ hoàn toàn và giá tài sản thì sẽ còn giảm mãi mãi. Để tự cứu vớt bản thân, họ quyết định là bán cắt lỗ bằng mọi giá, chấp nhận chịu những cái khoản lỗ đau đớn để đổi lấy sự an toàn, giả tạo bằng tiền mặt.

Vô hình chung thì chính cái sự hoảng loạn và bán tháo của đám đông, nó đã tạo ra một cái món quà tuyệt vời cho những nhà đầu tư nhìn xa trông rộng.

Nó tạo ra những cái mức giá rẻ mạt đến mức phi lý. Và đó thì chính là lý do vì sao mà tại cái vùng mà lã suất cao kỷ lục thì giá của các loại tài sản tài chính lại bắt đầu kiến tạo nên những cái vùng đáy vững chắc cho một chu kỳ mới.

Những bài học lịch sử chu kỳ này đã lặp lại như thế nào? Lịch sử kinh tế thế giới thì nó giống như là một cái cuốn phim dài tập ấy.

Dù các nhân vật có thay đổi, công nghệ có phát triển thì cốt chuyện và bản tính tham lam, sợ hãi của con người vẫn giữ nguyên một kịch bản duy nhất.

Nếu ta đặt lại những trang sử tài chính của các quốc gia phát triển trong nhiều tập kỳ qua, chúng ta sẽ thấy mô hình đỉnh lã suất hay đáy tài sản đã lập đi đập lại như một cái quy luật bất biến.

Câu chuyện lịch sử kinh điển đầu tiên mà bất kỳ một chuyên gia tài chính nào cũng phải nằm lòng chính là cuộc khủng hoảng lạ phát của nước Mỹ vào giai đoạn cuối thập niên 1970, đầu thập niên 1980.

Vào cái thời điểm đó thì nền kinh tế Mỹ nó rơi vào một cái tình trạng hỗn loạn do lạm phát phi mã, giá cả hàng hóa nó leo thang chóng mặt.

Để giải quyết được cục khủng hoảng này, ngân hàng trung ương Mỹ dưới sự dẫn dắt của chủ tịch Paul Walker đã đưa ra một quyết định vô tiền khoáng hậu trong lịch sử tài chính hiện đại.

Ông ta đã mạnh tay đẩy mức lã suất cơ bản của Mỹ lên có số kỷ lục gần 20% vào năm 1981. Lã suất cao khủng khiếp này đã lập tức giá một cái đòn chí mạng và nền kinh tế thực.

Doanh nghiệp tê liệt, tỷ lệ thất nghiệp tăng vọt, thị trường chứng khoán Mỹ lao dốc không phanh, bất động sản đóng băng hoàn toàn và ai cũng nghĩ rằng nước Mỹ đang đứng bên bờ vực của một thời kỳ đen tối.

Thế nhưng điều kỳ diệu đã xảy ra ngay tại cái đỉnh lã suất kinh hoảng 20% đó. Khi mà Paul Walker nhận thấy lạm phát đã chính thức bị khuất phục và tuyên bố dừng tăng lã suất thì dòng tiền thông minh hiểu rằng thời khắc lịch sử đã tới, họ lập tức là vào bắt đáy thị trường.

Và thực tế đã chứng minh rằng chính cái giai đoạn lãi suất đạt đỉnh năm 1981 đó, nó lại là một cái điểm khở đầu cho một chu kỳ tăng trưởng thị trường chứng khoán kéo dài kinh hoảng và vĩ đại bực nhất trong lịch sử nước Mỹ suốt 20 năm sau đó.

Bài học lịch sử thứ hai gần gũi hơn với thế hệ chúng ta chính là cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu.


3. Điểm gãy chu kỳ: Kịch bản sòng phẳng cho tài sản cá nhân

Diễn ra vào giai đoạn 2007-28. Trước đó thì trong giai đoạn 2004 đến 2006 thì để kiềm chế vong bóng bất động sản đang phỉnh to, ngân hàng trung ương Mỹ đã liên tục thực hiện bảy lần tăng lã suất, đẩy lã suất từ 1% lên mức đỉnh là 5,25%.

Cái lực đẩy lã suất này cuối cùng nó đã làm vỡ tung bong bóng nợ dưới chuẩn khiến cho thị trường nhà đất của Mỹ sụp đổ hoàn toàn vào năm 2007 và lan rộng thành cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu vào năm 2008.

Và trước cái nguy cơ sụp đổ của toàn bộ hệ thống từ cuốn năm 2008 đến đầu năm 2009, các cơ quan quản lý đã phải nhanh chóng cắt giảm lã suất một cách thần tốc về sát mức 0% để bơm tiền mà cứu nền kinh tế.

Và một cái điều cực kỳ thú vị đấy là thị trường chứng khoán Mỹ đã chính thức tạo đáy và bắt đầu đi lên từ tháng năm 2009. Tức là ngay tại thời điểm mà nền kinh tế thực vẫn đang vô cùng tồi tệ và các ngân hàng thì nó vẫn đang duy trì chính sách nớ lỏng ở mức tối đa nhé.

Những nhà đầu tư dũng cảm mua vào cổ phiếu lúc mà hệ thống ngân hàng đang ở đỉnh cao khủng hoảng thì đã thu về những cái khoản lợi nhuận khổng lồ khi mà thị trường bước vào chu kỳ giá tăng kéo dài 10 năm sau đó.

Và cũng không cần phải nhìn đâu xa, bài học lịch sử nhất và sinh động nhất chính là giai đoạn năm 2022 và 2024. Sau giai đoạn bơm tiền ồ ạc để hỗ trợ đại dịch, lạm phát toàn cầu đã bùng phát mạnh mẽ.

Để sửa sai thì các ngân hàng trung ương lớn trên thế giới dẫn đầu là Fé của Mỹ. Đã thực hiện chiến dịch tăng lã suất và mạnh nhất trong vòng 40 năm.

Chỉ trong vòng có hơn 1 năm, lã suất từ mức sát 0% đã bị kéo vọt lên tới gần 5% trên 5% ấy. Tại thị trường Việt Nam, chúng ta thì cũng đã chứng kiến một cái giai đoạn nghẹt thở vào cuối năm 2022 khi mà lã suất huy động của nhiều ngân hàng thương mại được đẩy lên mức đỉnh điểm là gần 10% thậm chí là 11% năm để mà ổn định tỉ giá và kiềm chế lạm phát.

Ngay lập tức thì thị trường chứng khoán Việt Nam đã rơi vào cảnh bán tháo hoảng loạn. Chỉ số VN Index đã sụt giảm nghiêm trọng về quanh cái vùng 900 điểm.

Còn thị trường bất động sản thì rơi vào trạng thái đóng băng hoàn toàn vì thiếu vốn. Tâm lý bi quan bao trùm, người người nhà mang tiền đi gửi tiết kiệm.

Thế nhưng lịch sử thì lại một lần nữa chứng minh tính đúng đắn của quy luật chu kỳ. Chính cái giai đoạn đen tối nhất của tháng 11 năm 2022 khi mà áp lực tăng lã suất đạt đến đỉnh điểm căng thẳng nhất.

Đó chính là cái đáy giải hạn của thị trường chứng khoán. Ngay khi mà các tín hiệu cho thấy lã suất đạt đỉnh và bắt đầu hạ nhiệt từ đầu năm 2023, thị trường chứng khoán đã hồi phục mạnh mẽ, mở đầu cho một chu kỳ tăng trưởng mới, bỏ lại phía sau những cái người vẫn đang mải mê ôm sổ tiết kiệm và chờ đợi một cái mức đáy sâu hơn.

Tất cả các minh chứng lịch sử này thì đều đã khẳng định một sự thật hiển nhiên, đỉnh của lã suất chính là món quà lớn nhất mà dòng thời gian dành tặng cho những nhà đầu tư thông minh và kiên nhẫn.

Mặc dù quy luật về mối quan hệ giữa đỉnh lã suất và đáy tài sản đã được lịch sử chứng minh rõ ràng nhưng các nhà đầu tư thì cũng cần phải hết sức tỉnh táo để tránh rơi vào những cái bẫy hiểu sai bản chất mang tính máy móc.

Điều đầu tiên và quan trọng nhất cần phải khắc cốt ghi tâm là đỉnh của lã suất thì không bao giờ là một cái kim nhọn. Nghĩa là không phải cứ chạm đúng cái điểm cao nhất đó là giá của tài sản sẽ lập tức bật tăng mạnh mẽ như một cái lò xo đâu.

Thực tế cho thấy thì đỉnh của lã suất thường là một cái vùng phẳng rộng lớn và nó sẽ kéo dài trong nhiều tháng thậm chí là có khi cả năm trời.

Đây là giai đoạn mà các ngân hàng trung ương sẽ duy trì chính sách thắt chặt tiền tệ ở mức cao để quan sát xem các số liệu lạm phát đã thực sự được dập tắt hay chưa.

Do đó thì nền kinh tế thực cần một khoảng thời gian trễ khá dài để ngấm đòn, tự chữa lành và phục hồi. Nếu bạn vội vàng dồn toàn bộ số vốn của mình vào thị trường ngay khi mà nghe tin lã suất vừa dừng tăng ấy thì bạn có thể sẽ bị cạn kiệt dòng tiền hoặc là kiệt quệ về mặt tâm lý trước khi mà nhìn thấy bình minh của một chu kỳ tăng trưởng thực sự xuất hiện.

Bên cạnh đó thì trong vai trò của một người điều hành dòng vốn khôn ngoan, chúng ta cũng không được phép nhìn nhận thị trường một cách phiến diện.

Lã suất dù là yếu tố vĩ mô quan trọng nhất đóng vai trò như một cái dòng máu điều hướng vạn vật nhưng nó không phải là yếu tố duy nhất quyết định tới sinh tử của giá trị tài sản.

Để một chu kỳ tăng trưởng mới thay đổi một cách bền vững, thị trường cần có sự cộng hưởng của nhiều yếu tố bổ trợ khác trong nền kinh tế thực.

Đó chính là sự ấm nên của thị trường lao động, tỉ lệ việc làm được duy trì ổn định và đặc biệt là sự phục hồi về mức thu nhập cũng như sức mua thực tế của người dân.

Riêng đối với thị trường bất động sản, một loại tài sản có tính đặc thủ cao. Bên cạnh câu chuyện lã suất rẻ, nó còn phụ thuộc rất lớn vào các chính sách pháp lý, việc khơi thông các nút thắt về thủ tục dự án và sự quay lại của niềm tin thị trường.

Nếu mà lã suất giảm nhưng dòng vốn vẫn bị nghẽn ở các giàu cản pháp lý thì thị trường nó sẽ vẫn tiếp tục trạng thái đóng băng kéo dài.

Tóm lại thì việc thấu hiểu sâu sắc về chu kỳ lạ suất không phải là một chiếc đũa thần giúp chúng ta có thể dự đoán chính xác tuyệt đối xem ngày mai hay là ngày kia thị trường sẽ tăng hay là giảm.

Thay vào đó thì kiến thức vĩ mô này mang lại cho chúng ta một cái giá trị biển vững hơn rất nhiều đó chính là một cái chiếc la bản định hướng chiến lược.

Nó giúp bạn sẽ biết rõ bản thân mình đang đứng ở vị trí nào trong một bức tranh toàn cảnh rộng lớn của nền kinh tế thế giới. Khi sở hữu chiếc la bàn này trong tay, bạn sẽ có đủ sự điểm tĩnh, bản lĩnh và lòng kiên nhẫn để từng bước gom nhặt những tài sản có giá trị cao với mức giá rẻ mạt khi mà đám đông ngoài kia vẫn đang hoảng loạn bán tháo.

Đầu tư thành công không dành cho những kẻ muốn làm giàu nhanh sau một đêm mà thuộc về những người biết nhìn xa trông rộng, biết tích lũy, biết chuẩn bị kỹ càng từ trong đêm tối của chu kỳ tiền đắt để sẵn sàng đón nhận quả ngọt khi dòng tiền rẻ một lần nữa cuộn trào trở lại.

Mình đang phát triển một kênh thứ hai của The Hiden Team, đó là kênh The Hidden P, nơi sẽ có những hành trình đầy góc khuất. Đây là nơi sẽ có những câu chuyện lịch sử hấp dẫn được kể lại với giọng văn các cách kể chuyện thú vị ly kỳ nhất.

Ở đó sẽ có những câu chuyện về lịch sử Việt Nam trong playlist Đại Việt xử ký, những câu chuyện về lịch sử Trung Quốc trong playlist Trung Hoa xử ký và những câu chuyện về tiểu thuyết trong Kiếm Vũ Phong Vân.

Nếu bạn quan tâm tới những nội dung này thì mình hy vọng sẽ được mọi người ủng hộ, ghé qua và để lại một lượt subscribe cũng như xem qua video bên kênh mình.

Cảm ơn mọi người rất nhiều.

Không có phép màu nào trong bài toán cân đối nợ nần. Khi nợ chạm trần, hoặc là chấp nhận lạm phát để quỵt nợ dần, hoặc là cấu trúc lại toàn bộ luật chơi.


📜 Xem toàn bộ Transcript gốc (Dữ liệu đối chiếu)

Vì sao đỉnh của lã suất lại thường là đáy của nhiều loại tài sản? Nếu để ý các chu kỳ kinh tế, bạn sẽ thấy có một hiện tượng rất là thú vị. Khi mà lã suất ngân hàng lên mức cao nhất cũng là lúc mà rất nhiều loại tài sản như là bất động sản, chứng khoán hay thậm chí là một số loại hàng hóa đang ở vùng giá thấp. Ngược lại thì khi mà lã suất xuống rất thấp thì giá của tài sản lại thường tăng mạnh. Vì sao lại có mối quan hệ như vậy? Mình nghĩ là có rất nhiều người biết. Thế nhưng mà chưa chắc đã là ai cũng có thể giải thích một cách chi tiết và dễ hiểu đâu. Chúng ta hãy cùng tìm hiểu trong tập podcast ngày hôm nay nhé. Chào mừng đến với The Hidden Self. Nơi sẽ có những sự thật mà xã hội không muốn cho bạn biết. [chuông] AI đã hiện diện ở khắp mọi nơi nhưng sức mạnh thực sự chỉ thuộc về người hiểu rõ cách thức nó vận hành. Những câu lệnh ngắn gọn trống rỗng sẽ chỉ khiến cô máy đưa ra những câu trả lời vô thưởng vô phạt không thể tháo gỡ khó khăn của bạn. Khóa học của Sơn Hải Nguyễn sẽ trang bị công thức giao việc đa tầng giúp bạn vạch rõ bối cảnh để tạo ra nội dung sắc bén. Bạn sẽ nắm vững nghệ thuật đúc khuôn nhằm ra ei ai chuẩn hóa văn phong thương hiệu và làm chủ kỹ năng tặng kèm bộ 100 câ lệnh thực chiến. Đăng ký ngay khóa học đỉnh cao từ Sơn Hải Nguyễn để được tặng kèm miễn phí bộ công cụ thực hành tài khoản Gamny Pro 1 năm chính chủ và 5 TB Google Driver lưu chữ. Lã suất là trọng lực của giá trị tài sản khi mà chi phí vốn thắt nghẹt dòng tiền. Để hiểu được vì sao mà đỉnh của lã suất lại thường là đáy của các loại tài sản ấy thì trước hết chúng ta cần phải hiểu về bản chất thực sự của lã suất dưới một cái góc nhìn ở gần gũi. Hãy tưởng tượng rằng nền kinh tế giống như là một cơ thể sống và dòng tiền nó chính là các vạch máu lưu thông để nuôi dưỡng cơ thể. Trong hệ sinh thái này thì lã suất đóng vai trò chính là cái mức giá mà bạn phải trả khi mà đi mượn tiền của người khác. Khi tiền nhiều và rẻ, dòng máu lưu thông mạnh mẽ, cơ thể hoạt động sung mãn. Nhưng khi mà lã suất cao, tiền trở nên khan hiếm và đắt đỏ hơn. Dòng máu đó thì nó bắt đầu có hiện tượng đông cứng lại. Cơ chế tác động này nó diễn ra vô cùng tàn nhẫn và rõ dệt qua ba kênh lớn của nền kinh tế mà đầu tiên chính là kênh người tiêu dùng đại chúng. Hãy lấy một ví dụ rất thực tế về thị trường bất động sản để thấy sức nặng của lã suất nhé. Khi nền kinh tế ở giai đoạn tiền rẻ, lã suất vay mua nhà chỉ duy trì ở mức khoảng 6% một năm đi. Một gia đình trẻ hoàn toàn có thể tự tin vay ngân hàng 2 tỷ để mua một căn hộ. với số tiền gốc và lãi phải trả ngân hàng nằm trong khả năng thu nhập của họ. Tuy nhiên thì khi mà lạ phát ập tới và ngân hàng buộc phải kéo lã suất vọt lên mức đỉnh điểm là 12% năm hoặc là 14% năm đi thì câu chuyện lập tức đảo chiều. Khoản tiền phải trả góp cho ngân hàng mỗi tháng bỗng chốc là tăng gấp đôi. Nó ăn mòn toàn bộ chi tiêu sinh hoạt của gia đình. Lúc này thì người mua nhà thực tế sẽ lập tức rút lui vì không chịu nổi áp lực tài chính. Khi người mua không còn, nhu cầu hay còn gọi là lực cầu trên thị trường, nó sẽ sụp đổ. Những người ôm đất, ôm nhà trước đó bằng tiền vay mượn bắt đầu sẽ ngược thở dần. Họ sẽ buộc phải hạ giá, cắt lỗ để giải thoát cho dòng vốn. Và cứ thế thì giá bất động sản nó sẽ liên tục lao dốc cho tới khi chạm đáy. Chỉ vì mức lã suất quá cao đã bóp nghẹt sức mua của thị trường. Kênh tác động thứ hai thì cũng tổn thương nặng nề không kém, chính là khối doanh nghiệp sản xuất dịch vụ. Doanh nghiệp thì muốn tồn tại được và phát triển thì gần như luôn phải sử dụng vốn vay để mà đầu tư vào nhà xưởng, máy móc, nguyên vật liệu hoặc là trả lương cho công nhân. Khi mà chi phí vay vốn tăng quá cao, nó giống như là một cái kéo sắc bén, ăn mòn trực tiếp và biên lợi nhuận của doanh nghiệp ấy. Một dự án kinh doanh vốn dĩ rất tiềm năng khi mà lã suất thấp bỗng nhiên đã trở thành một cái gánh nặng nợ nần khi mà lã suất ở đỉnh. Bà lãnh đạo doanh nghiệp bắt buộc phải rụt rè, không dám vay thêm tiền, thậm chí là phải thu hẹp quy mô sản xuất. Xa thải bớt nhân sự để đề phòng thủ rủi ro. Khi mà các doanh nghiệp suy yếu, lợi nhuận sụt giảm, kỳ vọng của các nhà đầu tư vào tương lai của doanh nghiệp cũng tan vỡ theo. Trên thị trường chứng khoán, giá trị của một cổ phiếu về cơ bản được quyết định bởi sức khỏe và khả năng kiếm tiền của doanh nghiệp đó. Khi dòng tiền của doanh nghiệp bị bóc nghẹt, các nhà đầu tư sẽ không còn sẵn sàng trả giá cao cho cổ phiếu nữa. Họ sẽ liên tục bán ra và đẩy định giá của toàn bộ thị trường chứng khoán xuống những cái vùng thấp. Kênh tác động thứ ba mang tính quyết định đến dòng trảy của tiền chính là tâm lý ngồi mát ăn bát vàng của những người dân. Bản chất con người thì luôn là tìm kiếm sự an toàn và hiệu quả tối đa cho đồng tiền của mình đúng không? Khi mà thị trường đầu tư như là chứng khoán, đất đai đang lao đao mà các ngân hàng lại tung ra mức lã suất tiết kiệm cực kỳ hấp dẫn lên tới 9% hay là 10% một năm thì một cái tâm lý chung sẽ xuất hiện là tại sao chúng ta phải chấp nhận rủi ro thức đêm ngủ không ngon để mà lo lắng cho các khoản đầu tư trong khi chỉ cần mang tiền gửi vào ngân hàng là chắc ăn đã nhận về một cái khoản lợi nhuận béo bở chẳng cần phải làm gì. Lập tức thì một làn sóng rút vốn khổng lồ diễn ra trên toàn thị trường tài chính. Tiền từ ví của những nhà đầu tư cá nhân, tiền từ các quỹ ròng ròng chảy ra khỏi các tài sản rủi ro và sẽ bị hút sạch vào cái cái két sắt kiên cố của hệ thống ngân hàng. Khi dòng tiền đầu cơ đã hoàn toàn biến mất, các thị trường tài sản sẽ rơi vào trạng thái thiếu máu nghiêm trọng, thanh khoản cạn kiệt và giá cả cứ thế mà lịm dần về vùng đáy. Như vậy thì mức lã suất ở đỉnh cao chót vót nó đã hoàn thành xứng mệnh làm nguộn lạnh nền kinh tế, ép toàn bộ các loại tài sản phải quy phục về giá trị thực, thậm chí là dưới giá trị thực của chúng. Quy luật kỳ vọng và sự nhạy bén của tiền thông minh. Có một cái nghịch lý mà những người mới tham gia vào thị trường thường thắc mắc đó là tại sao khi một nền kinh tế xấu nhất, báo chí đưa tin ảm đạm nhất và lã suất thì đang ở mức cao nhất thì giá tài sản nó không giảm tiếp mà nó bắt đầu lầm nỗi đi lên. Câu trả lời nó nằm ở bản chất cốt lõi của thị trường tài chính. Đó là một thị trường không bao giờ phản ánh những cái gì đang xảy ra ở thời điểm hiện tại mà nó phản ánh kỳ vọng của con người về những gì đang diễn ra trong tương lai. Các nhà nghiên cứu kinh tế học thì đã chỉ ra rằng thị trường tài chính, đặc biệt là thị trường chứng khoán ấy, nó luôn đi trước nền kinh tế thực từ 6 tháng đến 9 tháng. Khi bạn nhìn thấy các số liệu về kinh tế vĩ mô hiển thị trên mặt báo là vô cùng tồi tệ thì thực ra là thị trường đã tiêu hóa và nó phản ánh những cái tin tức đó vào giá từ rất lâu trước đó rồi. Để hiểu vì sao mà đỉnh lã suất lại trùng với đáy tài sản thì chúng ta cần đặt mình vào vị trí của các ngân hàng trung ương. Họ nâng lã suất không phải là vì họ ghét bỏ thị trường mà đôi khi là vì bắt buộc phải kiềm chế con quái vật lạ phát để bảo vệ sức mua của đồng nội tệ. Tuy nhiên thì y học có câu là thuốc bổ uống quá liều thì cũng thành thuốc độc. Khi mà lã suất bị duy trì ở mức đỉnh quá lâu thì nền kinh tế cũng sẽ bắt đầu ngấm đòn đau. Các dấu hiệu của sự suy thoái thất nghiệp bắt đầu xuất hiện. Lúc này thì áp lực đè nặng lên vai các nhà điều hành chính sách. Ai cũng hiểu rằng một khi lạm phát đã được kiểm soát và nền kinh tế có nguy cơ rơi vào khủng hoảng thì cái bước đi tiếp theo mang tính sống còn của ngân hàng trung ương chắc chắn sẽ là ngừng tăng và chuyển sang cắt giảm lã suất để mà giải cứu kích thích kinh tế tăng trưởng trở lại. Và chính cái bước ngoặt tư duy này nó là chìa khóa mở ra sự đảo chiều của giá tài sản. Trên thị trường thì nó luôn tồn tại một nhóm người được gọi là dòng tiền thông minh. Đây là các quỹ đầu tư lớn, các tỷ phú, các định chế tài chính sừng sỏ. Họ sở hữu những cái bộ óc phân tích vĩ mô hàng đầu và một cái lượng vốn khổng lồ. Đặc điểm của dòng tiền thông minh là họ không bao giờ tham lam khi mà thị trường đã rõ ràng và họ thì cũng không đợi tới khi mà ngân hàng Trung ương thực sự đặt bút ký quyết định giảm lã suất thì mới mang tiền đi và mua tài sản. Đối với họ thì chỉ cần nhận thấy những cái tín hiệu rõ ràng rằng chu kỳ tăng lã suất đã đi tới hồi kết, lạ phát đã được đạt đỉnh và lã suất thì nó không thể tăng thêm được nữa là họ đã bắt đầu hành động rồi. Họ âm thầm lặng lẽ giải ngân. góp nhặt những cái cổ phiếu tốt, những mảnh đất đắc địa đang bị bán tống bán tháo với mức giá rẻ mạt của những người cùng quẫn. Trong khi dòng tiền thông minh đang âm thầm tích lũy tài sản thì ở phía ngược lại, hiệu ứng tâm lý đám đông tại vùng đáy lại diễn ra vô cùng bi thả. Đây là thời điểm mà tâm lý sợ hãi bao trùm toàn bộ xã hội. Mọi tin tức xấu xuất hiện trên truyền thông đều mang một cái màu xám xịt. Doanh nghiệp này phá sản, tập đoàn kia vỡ nợ, tỉ lệ thất nghiệp tăng cao, nợ số ngân hàng chạm mốc báo động vân vân. Người bình thường thì do không có tâm nhìn dài hạn và bị áp lực về tài chính bổ vây sẽ rơi vào trạng thái hoảng loạn tột độ. Họ tin rằng nền kinh tế sẽ sụp đổ hoàn toàn và giá tài sản thì sẽ còn giảm mãi mãi. Để tự cứu vớt bản thân, họ quyết định là bán cắt lỗ bằng mọi giá, chấp nhận chịu những cái khoản lỗ đau đớn để đổi lấy sự an toàn, giả tạo bằng tiền mặt. Vô hình chung thì chính cái sự hoảng loạn và bán tháo của đám đông, nó đã tạo ra một cái món quà tuyệt vời cho những nhà đầu tư nhìn xa trông rộng. nó tạo ra những cái mức giá rẻ mạt đến mức phi lý. Và đó thì chính là lý do vì sao mà tại cái vùng mà lã suất cao kỷ lục thì giá của các loại tài sản tài chính lại bắt đầu kiến tạo nên những cái vùng đáy vững chắc cho một chu kỳ mới. Những bài học lịch sử chu kỳ này đã lặp lại như thế nào? Lịch sử kinh tế thế giới thì nó giống như là một cái cuốn phim dài tập ấy. Dù các nhân vật có thay đổi, công nghệ có phát triển thì cốt chuyện và bản tính tham lam, sợ hãi của con người vẫn giữ nguyên một kịch bản duy nhất. Nếu ta đặt lại những trang sử tài chính của các quốc gia phát triển trong nhiều tập kỳ qua, chúng ta sẽ thấy mô hình đỉnh lã suất hay đáy tài sản đã lập đi đập lại như một cái quy luật bất biến. Câu chuyện lịch sử kinh điển đầu tiên mà bất kỳ một chuyên gia tài chính nào cũng phải nằm lòng chính là cuộc khủng hoảng lạ phát của nước Mỹ vào giai đoạn cuối thập niên 1970, đầu thập niên 1980. Vào cái thời điểm đó thì nền kinh tế Mỹ nó rơi vào một cái tình trạng hỗn loạn do lạm phát phi mã, giá cả hàng hóa nó leo thang chóng mặt. Để giải quyết được cục khủng hoảng này, ngân hàng trung ương Mỹ dưới sự dẫn dắt của chủ tịch Paul Walker đã đưa ra một quyết định vô tiền khoáng hậu trong lịch sử tài chính hiện đại. Ông ta đã mạnh tay đẩy mức lã suất cơ bản của Mỹ lên có số kỷ lục gần 20% vào năm 1981. Lã suất cao khủng khiếp này đã lập tức giá một cái đòn chí mạng và nền kinh tế thực. Doanh nghiệp tê liệt, tỷ lệ thất nghiệp tăng vọt, thị trường chứng khoán Mỹ lao dốc không phanh, bất động sản đóng băng hoàn toàn và ai cũng nghĩ rằng nước Mỹ đang đứng bên bờ vực của một thời kỳ đen tối. Thế nhưng điều kỳ diệu đã xảy ra ngay tại cái đỉnh lã suất kinh hoảng 20% đó. Khi mà Paul Walker nhận thấy lạm phát đã chính thức bị khuất phục và tuyên bố dừng tăng lã suất thì dòng tiền thông minh hiểu rằng thời khắc lịch sử đã tới, họ lập tức là vào bắt đáy thị trường. Và thực tế đã chứng minh rằng chính cái giai đoạn lãi suất đạt đỉnh năm 1981 đó, nó lại là một cái điểm khở đầu cho một chu kỳ tăng trưởng thị trường chứng khoán kéo dài kinh hoảng và vĩ đại bực nhất trong lịch sử nước Mỹ suốt 20 năm sau đó. Bài học lịch sử thứ hai gần gũi hơn với thế hệ chúng ta chính là cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu. diễn ra vào giai đoạn 2007-28. Trước đó thì trong giai đoạn 2004 đến 2006 thì để kiềm chế vong bóng bất động sản đang phỉnh to, ngân hàng trung ương Mỹ đã liên tục thực hiện bảy lần tăng lã suất, đẩy lã suất từ 1% lên mức đỉnh là 5,25%. Cái lực đẩy lã suất này cuối cùng nó đã làm vỡ tung bong bóng nợ dưới chuẩn khiến cho thị trường nhà đất của Mỹ sụp đổ hoàn toàn vào năm 2007 và lan rộng thành cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu vào năm 2008. Và trước cái nguy cơ sụp đổ của toàn bộ hệ thống từ cuốn năm 2008 đến đầu năm 2009, các cơ quan quản lý đã phải nhanh chóng cắt giảm lã suất một cách thần tốc về sát mức 0% để bơm tiền mà cứu nền kinh tế. Và một cái điều cực kỳ thú vị đấy là thị trường chứng khoán Mỹ đã chính thức tạo đáy và bắt đầu đi lên từ tháng năm 2009. Tức là ngay tại thời điểm mà nền kinh tế thực vẫn đang vô cùng tồi tệ và các ngân hàng thì nó vẫn đang duy trì chính sách nớ lỏng ở mức tối đa nhé. Những nhà đầu tư dũng cảm mua vào cổ phiếu lúc mà hệ thống ngân hàng đang ở đỉnh cao khủng hoảng thì đã thu về những cái khoản lợi nhuận khổng lồ khi mà thị trường bước vào chu kỳ giá tăng kéo dài 10 năm sau đó. Và cũng không cần phải nhìn đâu xa, bài học lịch sử nhất và sinh động nhất chính là giai đoạn năm 2022 và 2024. Sau giai đoạn bơm tiền ồ ạc để hỗ trợ đại dịch, lạm phát toàn cầu đã bùng phát mạnh mẽ. Để sửa sai thì các ngân hàng trung ương lớn trên thế giới dẫn đầu là Fé của Mỹ. đã thực hiện chiến dịch tăng lã suất và mạnh nhất trong vòng 40 năm. Chỉ trong vòng có hơn 1 năm, lã suất từ mức sát 0% đã bị kéo vọt lên tới gần 5% trên 5% ấy. Tại thị trường Việt Nam, chúng ta thì cũng đã chứng kiến một cái giai đoạn nghẹt thở vào cuối năm 2022 khi mà lã suất huy động của nhiều ngân hàng thương mại được đẩy lên mức đỉnh điểm là gần 10% thậm chí là 11% năm để mà ổn định tỉ giá và kiềm chế lạm phát. Ngay lập tức thì thị trường chứng khoán Việt Nam đã rơi vào cảnh bán tháo hoảng loạn. Chỉ số VN Index đã sụt giảm nghiêm trọng về quanh cái vùng 900 điểm. Còn thị trường bất động sản thì rơi vào trạng thái đóng băng hoàn toàn vì thiếu vốn. Tâm lý bi quan bao trùm, người người nhà mang tiền đi gửi tiết kiệm. Thế nhưng lịch sử thì lại một lần nữa chứng minh tính đúng đắn của quy luật chu kỳ. Chính cái giai đoạn đen tối nhất của tháng 11 năm 2022 khi mà áp lực tăng lã suất đạt đến đỉnh điểm căng thẳng nhất. Đó chính là cái đáy giải hạn của thị trường chứng khoán. Ngay khi mà các tín hiệu cho thấy lã suất đạt đỉnh và bắt đầu hạ nhiệt từ đầu năm 2023, thị trường chứng khoán đã hồi phục mạnh mẽ, mở đầu cho một chu kỳ tăng trưởng mới, bỏ lại phía sau những cái người vẫn đang mải mê ôm sổ tiết kiệm và chờ đợi một cái mức đáy sâu hơn. Tất cả các minh chứng lịch sử này thì đều đã khẳng định một sự thật hiển nhiên, đỉnh của lã suất chính là món quà lớn nhất mà dòng thời gian dành tặng cho những nhà đầu tư thông minh và kiên nhẫn. Mặc dù quy luật về mối quan hệ giữa đỉnh lã suất và đáy tài sản đã được lịch sử chứng minh rõ ràng nhưng các nhà đầu tư thì cũng cần phải hết sức tỉnh táo để tránh rơi vào những cái bẫy hiểu sai bản chất [âm nhạc] mang tính máy móc. Điều đầu tiên và quan trọng nhất cần phải khắc cốt ghi tâm là đỉnh của lã suất thì không bao giờ là một cái kim nhọn. Nghĩa là không phải cứ chạm đúng cái điểm cao nhất đó là giá của tài sản sẽ lập tức bật tăng mạnh mẽ như một cái lò xo đâu. Thực tế cho thấy thì đỉnh của lã suất thường là một cái vùng phẳng rộng lớn và nó sẽ kéo dài trong nhiều tháng thậm chí là có khi cả năm trời. Đây là giai đoạn mà các ngân hàng trung ương sẽ duy trì chính sách thắt chặt tiền tệ ở mức cao để quan sát xem các số liệu lạm phát đã thực sự được dập tắt hay chưa. Do đó thì nền kinh tế thực cần một khoảng thời gian trễ khá dài để ngấm đòn, tự chữa lành và phục hồi. Nếu bạn vội vàng dồn toàn bộ số vốn của mình vào thị trường ngay khi mà nghe tin lã suất vừa dừng tăng ấy thì bạn có thể sẽ bị cạn kiệt dòng tiền hoặc là kiệt quệ về mặt tâm lý trước khi mà nhìn thấy bình minh của một chu kỳ tăng trưởng thực sự xuất hiện. Bên cạnh đó thì trong vai trò của một người điều hành dòng vốn khôn ngoan, chúng ta cũng không được phép nhìn nhận thị trường một cách phiến diện. Lã suất dù là yếu tố vĩ mô quan trọng nhất đóng vai trò như một cái dòng máu điều hướng vạn vật nhưng nó không phải là yếu tố duy nhất quyết định tới sinh tử của giá trị tài sản. Để một chu kỳ tăng trưởng mới bứt phá một cách bền vững, thị trường cần có sự cộng hưởng của nhiều yếu tố bổ trợ khác trong nền kinh tế thực. Đó chính là sự ấm nên của thị trường lao động, tỉ lệ việc làm được duy trì ổn định và đặc biệt là sự phục hồi về mức thu nhập cũng như sức mua thực tế của người dân. Riêng đối với thị trường bất động sản, một loại tài sản có tính đặc thủ cao. [âm nhạc] Bên cạnh câu chuyện lã suất rẻ, nó còn phụ thuộc rất lớn vào các chính sách pháp lý, việc khơi thông các nút thắt về thủ tục dự án và sự quay lại của niềm tin thị trường. Nếu mà lã suất giảm nhưng dòng vốn vẫn bị nghẽn ở các giàu cản pháp lý thì thị trường nó sẽ vẫn tiếp tục trạng thái đóng băng kéo dài. Tóm lại thì việc thấu hiểu sâu sắc về chu kỳ lạ suất không phải là một chiếc đũa thần giúp chúng ta có thể dự đoán chính xác tuyệt đối xem ngày mai hay là ngày kia thị trường sẽ tăng hay là giảm. Thay vào đó thì kiến thức vĩ mô này mang lại cho chúng ta một cái giá trị biển vững hơn rất nhiều đó chính là một cái chiếc la bản định hướng chiến lược. Nó giúp bạn sẽ biết rõ bản thân mình đang đứng ở vị trí nào trong một bức tranh toàn cảnh rộng lớn của nền kinh tế thế giới. Khi sở hữu chiếc la bàn này trong tay, bạn sẽ có đủ sự điểm tĩnh, bản lĩnh và lòng kiên nhẫn để từng bước gom nhặt những tài sản có giá trị cao với mức giá rẻ mạt khi mà đám đông ngoài kia vẫn đang hoảng loạn bán tháo. Đầu tư thành công không dành cho những kẻ muốn làm giàu nhanh sau một đêm mà thuộc về những người biết nhìn xa trông rộng, biết tích lũy, biết chuẩn bị kỹ càng từ trong đêm tối của chu kỳ tiền đắt để sẵn sàng đón nhận quả ngọt khi dòng tiền rẻ một lần nữa cuộn trào trở lại. Mình đang phát triển một kênh thứ hai của The Hiden Team, đó là kênh The Hidden P, nơi sẽ có những hành trình đầy góc khuất. Đây là nơi sẽ có những câu chuyện lịch sử hấp dẫn được kể lại với giọng văn các cách kể chuyện thú vị ly kỳ nhất. Ở đó sẽ có những câu chuyện về lịch sử Việt Nam trong playlist Đại Việt xử ký, những câu chuyện về lịch sử Trung Quốc trong playlist Trung Hoa xử ký và những câu chuyện về tiểu thuyết [âm nhạc] trong Kiếm Vũ Phong Vân. Nếu bạn quan tâm tới những nội dung này thì mình hy vọng sẽ được mọi người ủng hộ, ghé qua và để lại một lượt subscribe cũng như xem qua video bên kênh mình. Cảm ơn mọi người rất nhiều. am