Kinh tế vĩ mô & Tiền tệ ~21 phút đọc

Dòng tiền và nghịch lý thừa mứa: Vì sao hàng hóa ngập tràn mà dân vẫn thiếu tiền?

Tại sao trong một thế giới mà hàng hóa sản xuất ra dư thừa đến mức có khi còn phải hủy diệt hàng loạt thì ngoài kia vẫn có hàng triệu con người sống trong cảnh bần hàn. Lịch sử kinh tế học thì đã từng ghi nhận những c...

1. Bề nổi của con số và thực trạng dòng tiền

Tại sao trong một thế giới mà hàng hóa sản xuất ra dư thừa đến mức có khi còn phải hủy diệt hàng loạt thì ngoài kia vẫn có hàng triệu con người sống trong cảnh bần hàn.

Lịch sử kinh tế học thì đã từng ghi nhận những cái nghịch cảnh đến mức giợn người. Trong cuộc đạ suy thoái thập niên 1930, theo đoạn luật điều chỉnh nông nghiệp năm 1933 của Mỹ, chính quyền và các chủ trang trại đã tiêu hủy hơn 6 triệu con lợn và cày sới bỏ đi hàng triệu mẫu đất cây trồng.

Hàng triệu lít sữa bị nông dân tại các vùng Trung Tây đổ thẳng xuống bương rãnh hay là các kênh rạch ven biển nhằm ngăn giá sữa sụp đổ.

Trong khi thì ngay trên đường phố Chicago và New York, những dòng người dài vô tận đứng xếp hàng xin từng bass loãng hay những cái thời điểm mà thị trường thịt bò châu Âu nó dư thường nghiêm trọng với hiện tượng núi thịt bò thập niên 1980 1990 khiến hàng triệu con gia súc phải đem đi tiêu hủy hoặc dồn tải bỏ đi.

Đám đông thì vẫn nghĩ rằng là nhìn vào những cảnh tượng dư thừa công suất tàn khốc đó và thường buông một cái tiếng thở dài rồi kết luận rằng đấy là do năng lực sản xuất đã vượt quá nhiều của con người.

Đây là một sai lầm nhận thức mang tính chất cốt tử. Cốt lõi của vấn đề chưa bao giờ nằm ở việc thế giới này làm ra quá nhiều của cả vật chất.

Bản chất trần trụi và lạnh lùng hơn rất nhiều. Đấy là tiền trong túi của đại đa số người tiêu dùng đã cạn kiệt khiến họ không còn tơ cách pháp lý và tài chính để bước vào sàn giao dịch của nền kinh tế thị trường.

Để hiểu được thấu đáo câu chuyện này thì chúng ta phải gạt bỏ lăng kính đạo đức, lòng trắc ẩn hay những lời ca thán đầy cảm tính đi.

Nền kinh tế thị trường nó không vận hành bằng trái tim, nó vận hành như một cỗ máy cơ học tuyệt đối chuẩn xác theo những cái định luật vật lý về dòng chảy và áp suất.

Bất kỳ một sự trạch hướng nào giữa cách máy móc vận hành và cách con người tưởng tượng về nó đều sẽ dẫn tới những ngộ nhận tai hại.

Hãy cùng bóc tách những bánh răng, từng piston của cô máy khổng lồ này để thấy được dòng tiền thực sự đi đâu, vì sao mà cung và cầu lại lệch pha và tại sao điểm gãy của hệ thống lại là một sự tất yếu mang tính chu kỳ đã lặp đi lập lại suốt chiều dài lịch sử nhân loại.

Truy cập ngay Sơnuyen.com để khám phá thêm kho cụ và tài liệu hỗ trợ cho công việc, nâng cao kỹ năng làm việc của bạn, ảo ảnh của thị trường khi mong muốn không phải là nhu cầu.

Trong sách giáo khoa kinh tế học nhập môn ấy, người ta thường dạy sinh viên một khái niệm về cung và cầu như hai cái đường chéo nhau, gặp nhau tại một điểm giao cắt hoàn hảo được gọi là điểm cân bằng thị trường.

Mô hình này thì nó rất là gọn gàng và tạo ra một cái cảm giác an tâm rằng cái bàn tay vô hình nó sẽ luôn tự điều chỉnh mọi thứ về trạng thái tối ưu.

Nhưng mà thực tế vận hành ngoài đời thực thì lại bỏ quên một cái chi tiết mang tính quyết định đấy là khái niệm cầu trong kinh tế học tư bản.

Nó không đồng nghĩa với mong muốn hay là sự khao khát sinh học của con người đâu. Cầu trong kinh tế học nó là cầu có khả năng thanh toán.

Luật chơi của thị trường rất sòng phẳng và không có chỗ cho sự thương hại. Bạn có thể thèm khát một bữa ăn ngon.

Bạn có thể tuyệt vọng cần một cái mái nhà che mưa che nắng. Bạn có thể ao ước một chiếc xe hơi để đi làm đỡ mưa đỡ gió.

Thế nhưng mà nếu trong túi bạn không có đủ tiền để chi trả cho một cái mức giá niêm yết thì sự thèm khát đó đối với hệ thống kinh tế hoàn toàn bằng không vô nghĩa.

Nó không tồn tại trên bảng cân đối kế toán. Nó không xuất hiện trong hệ thống tính tiền và các thuật toán thị trường sẽ coi bạn như một thực thể vô hình.

Hãy lấy ví dụ cụ thể để hình dung về quy luật này nhé. Giả sử cho một xã hội có 1 triệu người đang khao khát sở hữu một chiếc ô tô để phục vụ nhu cầu đi lại căn bản.

Một tổ hợp nhà máy hiện đại được xây dựng và sản xuất ra 100.000 chiếc xe. Nếu tính thuần túy theo logic nhu cầu con người, thị trường đang thiếu hàng nghiêm trọng.

1 triệu người tranh nhau 100.000 chiếc xe. Có nghĩa là cầu vượt cung gấp 10 lần.

Nhưng trong thực tế nếu phân bổ thu nhập của xã hội đó bị lệch đến mức mà trong 1 triệu người kia chỉ có đúng 10.000 ngàn người có đủ khả năng tài chính để trả tiền mua xe thì điều gì sẽ xảy ra?

90.000 chiếc xe còn lại lập tức bị vứt xó ngoài bãi phế liệu hoặc là nằm phủ bụi trong các kho bãi mênh mông. Hiện tượng đó được gọi bằng một thuật ngữ hoa mỹ đấy là dư thừa công suất.

Nó không sinh ra bởi vì là người đã no đủ phương tiện di chuyển mà nó sinh ra là vì 990.000 con người còn lại không đủ sức mua để biến ước muốn của mình thành một lệnh giao dịch hợp đệ.

Hàng hóa ế ầm nằm cạnh những cái ánh mắt thèm thuồng nhưng bất lực. Đó là nghịch lý cơ bản đầu tiên của cơ chế thị trường.

Năng lực sản xuất được thúc đẩy bởi công nghệ có thể thăng tiến không giới hạn, nhưng mà sức mua của số đông lại bị giới hạn bởi cấu trúc phân phối thu nhập, giải mã dòng tiền, nghịch lý thanh khoản và cái chết lâm sàng của vận tốc.

Khi chứng kiến cảnh hàng quán vắng vẻ, công nhân giảm giờ làng, người trẻ thắt chặt hầu bao thì câu hỏi tự nhiên hiện lên trong đầu của nhiều người đấy là có phải thế giới đang thiếu tiền không?

Thì câu trả lời chắc chắn là không. Nếu nhìn vào bảng cân đối kế toán của các ngân hàng trung ương lớn trên toàn cầu trong suốt hai thập kỷ vừa qua, đặc biệt là sau những đợt nới lỏng định lượng quy mô chưa từng có thì bất kỳ ai cũng phải thừa nhận một thực tế đấy là tiền tệ trên thị trường chưa bao giờ dồi rào tới như vậy.

Hàng nghìn tỷ đô la, euro, yên hay là nhân dân tệ đã được tạo ra tử hư không thông qua những cú crích chuột trên hệ thống ngân hàng.

Thị trường tài chính ngập ngộ trong thanh khoản. Vậy thì tại sao đám đông ngoài phố vẫn cảm thấy chiếc ví của mình luôn trống rỗng?

Để giải thích cho hiện tượng này, chúng ta cần phải nhìn vào phương trình tiền tệ kinh điển như sau. M nh b= p I.

Trong đó thì M là khối lượng tiền, V là vận tốc lưu thông tiền tệ, P là mức giá cả và I là sản lượng thực tế. Vấn đề sống còn nằm ở chữ V, tốc độ luân chuyển của dòng tiền.

Một đồng tiền chỉ thực sự tạo ra sự thịnh vượng cho nền kinh tế khi mà nó được truyền từ tay người này sang tay người khác với tốc độ nhanh.

Hãy hình dung một chu chỗa giao dịch đơn giản thế này. Một người công nhân lương 10 đồng.

Anh ta lập tức mang 5 đồng đi mua bánh mì. Người làm bánh mì dùng 5 đồng đó để mua bột mì của nông dân.

Người nông dân thì mang số tiền đó đi sửa chiếc máy cày. Người thợ máy cày thì lại dùng số tiền đó để mua quần áo cho con.

Tức là một đồng tiền danh nghĩa trại qua năm bàn tay đã tạo ra giá trị giao dịch gấp năm lần và nuôi sống nhiều gia đình. Nhưng mà hiện nay thì cái chữ V đó, cái vận tốc đấy nó đang có vấn đề.

Tiền sau khi được bơm ra từ các ngân hàng trung ương chưa chảy đều vào các mao mạch của nền kinh tế thực. Nó chưa chảy vào túi của những người lao động phổ thông.

Những người có khuynh hướng tiêu dùng cận biên rất cao. Nghĩa là có 10 đồng thì sẽ tiêu gần hết cả 10 đồng để mà trang trải cuộc sống.

Thay vào đó thì dòng tiền khổng lồ này lại chảy thẳng vào các tầng lớp trên cùng của phễ kinh tế thông qua hệ thống tín dụng và tài sản đảm bảo.

Bản chất của tích tụ vốn, tốc độ của lợi nhuận và sự kiệt quệ của sức mua. Ở đây thì chúng ta sẽ chạm tới một định luật căn bản đã được nhà kinh tế học Thomas Piketti khái quát có công thức là R lớn hơn G.


2. Cơ chế in tiền, pha loãng nợ và kẻ phải trả giá ngầm

Trong đó thì R là tỉ suất sinh lời từ vốn, tức là bao gồm lợi nhuận đầu tư, cổ tức, tiền thuê đất, lãi suất vân vân. Còn G là tốc độ tăng trưởng của toàn bộ nền kinh tế vốn gắn liền chặt chẽ với tốc độ tăng lương của những người lao động bình thường.

Trong một cấu trúc kinh tế tư bản vận hành tự nhiên mà không có sự can thiệp, tái cân bằng đủ mạnh ấ thì R nó sẽ luôn có xu hướng lớn hơn G.

Tức là những người nắm giữ tài sản cốt lõi, nắm tư liệu sản xuất và công nghệ tinh hoa sẽ luôn có khả năng tích lũy của cải tài sản với tốc độ nhanh hơn rất nhiều lần so với tốc độ của những người bán sức lao động có thể tích lũy từ đồng lương của mình.

Đây không phải là vấn đề tốt hay xấu về mặt đạo đức nhé. Nó là thuần túy về tính chất tự tích lũy của tư bản.

Giống như là một vật thể có khối lượng càng lớn trong vũ trụ thì cái lực hấp dẫn của nó lại càng mạnh vậy. Một khối tài sản càng lớn thì cái khả năng thu hút các nguồn lực xung quanh về phía nó lại càng cao.

Khi mà lượng tiền mặt khổng lồ đó được hút sạch về phía nhóm tinh hoa sở hữu vốn thì họ sẽ làm gì với cái số tiền đó? Họ không thể ăn thêm 1000 bữa mỗi ngày, cũng không thể mặc cùng lúc 1000 bộ quần áo.

Nhu cầu tiêu dùng hàng hóa cơ bản của một cá nhân dù giàu có tới mức nào thì cũng có giới hạn sinh học tự nhiên. Do đó thì dòng tiền thặng dư này nó không biến thành sức mua trong nền kinh tế thực.

Họ sẽ đổ số tiền đó vào việc gom thêm các tài sản tài nguyên cốt lõi có tính khan hiếm cao. Giả dụ như là bất động sản đắc điệu, cổ phần chi phố các tập đoàn độc quyền hay là quyền khai thác tài nguyên thiên nhiên, các công cụ tài chính phái sinh vân vân.

Hành vi gom thu này nó sẽ tạo ra một cái hệ quả kép mang tính chất bóp nghẹt. Thứ nhất, kiểu gì nó cũng sẽ thổi bùng bong bóng tài sản.

Giá nhà đất, chi phí mặt bằng kinh doanh, chi phí y tế, giáo dục, năng lượng sẽ bị đẩy lên những cái tầng mây cao hơn. Thứ hai đấy là khi mà giá tài sản tăng phi mã, chi phí sinh hoạt tối thiểu của một công dân bình thường trong xã hội cũng sẽ tăng lên, tiền thuê nhà tăng, tiền ăn uống tăng, tiền bảo hiểm cũng tăng vân vân.

Vậy thì kết quả là gì? Đó là chi phí sống của đại đao số người dân sẽ tăng lên.

Trong khi thu nhập thực tế, sau khi trừ đi lạ phát, tài sản ấ thì vẫn sẽ dậm chân tại chỗ hoặc là suy giảm. Tỉ lệ thu nhập khả dụng tức là số tiền nhàn dỗi mà một cá nhân có toàn quyền chi tiêu cho các nhu cầu tiêu dùng tùy chọn nó sẽ co cụm lại chỉ còn là một cái phần rất nhỏ và sức mua của toàn xã hội sẽ bị rút cạn một cách êm đềm nhưng rất triệt để bẫy thu hẹp và cuộc đào thải bắt buộc và khi mà chiếc ví của số đông sẽ cạn kiệt đi, các tế bào cơ sở của nền kinh tế bắt đầu phát tín hiệu cấp cứu.

Một xã hội mà từ người làm công ăn lương, tài xế công nghệ cho tất cả nhân viên văn phòng đều phải thắt lưng bộc bụng, cân nhắc từng đồng bạc khi bước vào siêu thị thì doanh nghiệp sản xuất sẽ bán hàng cho ai?

Doanh số bán lẻ sẽ tụt dốc, hàng tồn kho sẽ chất cao như núi trong kho bãi. Lợi nhận của các doanh nghiệp kinh doanh hàng hóa thông thường sẽ cắn đầu lao dốc không phanh.

Và để sinh tồn trong một bố cảnh dòng tiền bị thu hẹp thì bản năng tự vệ đầu tiên của bất kỳ một nhà quản trị doanh nghiệp nào cũng sẽ là cắt giảm chi phí vận hành.

Vậy thì những cái biện pháp cắt giảm đó là gì? Thứ nhất, dễ nhất đấy là sa thả nhân sự hàng loạt để giảm quỹ lương.

Thứ hai, sẽ tiếp tục đóng băng các kế hoạch tuyển dụng mới, cắt giảm tiền thưởng phúc lợi. Và thứ ba, thường thảo kéo dài thời gian thanh toán nợ với các nhà cung cấp dưới.

Và đây chính là lúc mà chiếc bẫy cầu trúc sẽ sập xuống. Cái hành động sang thải và giảm lương nhằm cứu vãn lợi nhuận của từng doanh nghiệp riêng lẻ lại dáng thêm một cái đòn chí mạng nữa vào tổng cầu của toàn bộ nền kinh tế.

Người công nhân bị mất việc ngày hôm nay chính là người tiêu dùng biến mất vào ngày mai. Thu nhập của người này là chi tiêu của người khác.

Khi hàng triệu con người cùng lúc mất thu nhập, doanh số của các doanh nghiệp khác lại tiếp tục rơi tự do. Và cứ như vậy thì một cái vòng xoáy giảm phát ác tính được kích hoạt.

Sức mua giảm dẫn tới doanh nghiệp cắt giảm nhân sự. Cắt giảm nhân sự là khiến cho sức mua tiếp tục suy kiệt.

Sức mua suy kiệt là đẩy thêm nhiều doanh nghiệp bên bờ vực phá sản. Để trì hoãn thời khắc sụp đổ, hệ thống thường sử dụng đến liều thuốc giảm đau quen thuộc, đấy là tín dụng tiêu dùng.

Tức là khi mà tiền lương không đủ sống, người ta được khuyến khích quẹt thẻ tín dụng, vay trả góp, vay mua nhà với lã suất ưu đãi. Thế nhưng mà nợ thực chất nó chỉ là việc vay mượn sức mua của tương lai để tiêu xà cho hiện tại thôi.

Đến một thời điểm nhất định, khi mà tỉ lệ trả nợ trên thu nhập vượt quá ngưỡng chịu đựng, quả cầu tuyết nợ nần nó sẽ phình to tới mức không thể lăn tiếp được nữa.

Lúc này thì hệ thống sẽ bắt buộc phải trải qua một cái cuộc thanh trừng tàn bạo mang tên là tái cân bằng sự hủy diệt. Những doanh nghiệp yếu kém sẽ bị đào thải.

Các dây chuyền sản xuất thì sẽ bị phá dỡ, bán sắt vụn. Công ty tuyên bố phá sản để xóa nợ.

Thị trường dùng chính sự đau đớn của việc xóa sổ năng lực sản xuất dư thừa để ép cung tụt xuống bằng với mức cầu đã bị tổn thương nghiêm trọng.

Ẩn ý về điểm gãy khi khoảng cách trở thành vết nứt địa chấn. Bất kỳ một cái hệ thống vật lý nào khi mà bị kéo căng quá mức tại một điểm mà không có sự giải tỏa áp lực thì đều sẽ xuất hiện một điểm gãy cấu trúc.

Trong cơ học của xã hội, điểm gãy xuất hiện khi mà dòng chảy của cải bị tắc nghẽn hoàn toàn ở một cực. Trong khi cực còn lại sẽ rơi vào trạng thái chân không tuyệt đối.

Bạn hình dung một cái đồng hồ cát nhá. Để thời gian có thể trôi và cỗ máy tiếp tục hoạt động, cát từ bầu trên phải giơ xuống bầu dưới.

Rồi sau đó thì chiếc đồng hồ nó sẽ phải lật ngược lại để dòng chảy tiếp diễn tuần hoàn. Thế nhưng mà nếu cái eo của chiếc đồng hồ cát bị bịt kín bởi một cái lớp mảng ngăn hoặc là toàn bộ cát bị giữ lại ở một phần đỉnh mà không cách nào để có thể tuần hoàn trở lại đáy thì cỗ máy nó sẽ đứng im vĩnh viễn.

Sự chênh lệch giữa lượng tích tụ tài nguyên ở nhóm thiểu số và khả năng tiếp cận sinh kế của số đông không đơn thuần là một câu chuyện về con số thống kê hay là hệ số jini.

Ẩn ý đằng sau sâu xa cái sự chênh lệch đó chính là sự đứt gãy của giao ước ngầm trong tổ chức xã hội. Xã hội là người chấp nhận trật tự phân chia lao động và sở hữu tư nhân dựa trên một cái tiền đề bất thành văn.

Đấy là nếu một cá nhân nỗ lực lao động, tuôn thủ luật chơi và cống hiến sức lực trí tuệ thì họ sẽ đổi lại được một mức sống tối thiểu tương xứng đủ để duy trì gia đình, sinh con và có hy vọng vào một tương lai tốt đẹp hơn cho thế hệ kế tiếp.

Thế nhưng mà khi mà tỉ lệ phân bổ của cải bị lệch tới mức mà một người lao động bình thường làm việc kiệt sức 10 tiếng mỗi ngày mà vẫn không thể mua nổi một căn hộ nhỏ thì không đủ trang tiền trang trải viện phí khi ốm đau và không nhìn thấy bất kỳ một cái cánh cửa thăng tiến nào thì cái giao ước ngầm đó coi như sẽ bị phá vỡ và khi mà sự phân cực đạt tới giới hạn trịu tải của kết cấu xã hội, điểm gãy sẽ xuất hiện.

Khủng hoảng kinh tế khi đó nó không còn gói gọn trên bản điện tử của thị trường chứng khoán nữa mà có thể nó sẽ biến dạng thành khủng hoảng toàn diện có thể là về thể chế, về trật tự và cả sự ổn định.

Bài học từ lịch sử những chu kỳ giải phóng áp suất tàn khốc. Lịch sử loài người thì nó chưa bao giờ thiếu những các bài học cảnh báo về thời khắc điểm gãy này xuất hiện.

Mỗi khi mà dòng chảy tài nguyên dồn ứ tới mức nghẹt thở, hệ thống sẽ luôn tìm cách tự giải phóng áp suất của nó và cái giá phải trả thường vô cùng đắt.

Hãy nhìn lại thời kỳ đại suy thoái những năm 293 tại Mỹ và phương Tây.


3. Điểm gãy chu kỳ: Kịch bản sòng phẳng cho tài sản cá nhân

Đó chính là thời điểm đỉnh cao của sự dư thừa công suất. Các nhà máy thép hoạt động hết công suất.

C nông trạng bội thu nông sản. Thế nhưng nghịch lý là gì?

Người ta đã đổ hàng nghìn lít sữa xuống lòng sông Mississippi đốt cháy những cái cánh đồng lúa mỉ ngút ngàn để nó giữ cái nguồn cung tức là giữ cái giá hàng hóa không bị sập xuống ấy.

Trong khi nghe trên đường phố Chicago và New York, những dòng người dài vô tận xếp hàng trong giá rét chỉ để x một cái mẩu bánh mỉ mốc và một bát sub loãng từ các bếp ăn tử thiện.

Sự sụp đổ sức mua đã biến một cuộc khủng hoảng tài chính đơn thuần thành một cơn địa chấn kinh tế kéo dài cả thập kỷ. Hậu quả của cuộc đạo suy thoái đó không dừng lại ở những vụ nhảy lầu của các nhà đầu tư Phố World.

Sự cùng quẫn về kinh tế và cảm giác bị tước đoạt của tầng lớp bình dân tại châu Âu đã tạo ra mảnh đất màu mỡ cho các chủ nghĩa cực đoan chỗ dậy.

Khi một thế hệ thanh niên không có việc làm, không có tương lai và không có tài sản, họ trở thành chất dẫn lửa hoàn hảo cho những cái lời hiệu triệu dân túy và quân phiệt.

Chủ nghĩa phá đã tìm thấy nguồn năng lượng nuôi dưỡng chính từ cái sự tuyệt vọng kinh tế của đám đông. Và kết cục tất yếu là ngọn lửa thế chiến thứ hai bùng cháy dữ dội, thiêu dụi toàn bộ lục địa già để rồi sau đó một trật tự kinh tế mới buộc phải tá lập lại từ đống cho tàn.

Nhìn xa hơn về phương đông, trong suốt hàng ngàn năm phong kiến, mô hình sụp đổ của các triều đại cũng tuân theo đúng một kịch bản cơ học như vậy.

Ở giai đoạn đầu của một vương triều mới, ruộng đất được chia tương đối đồng đều cho nông dân tự canh, kinh tế phát triển, xã hội phuồn vinh.

Thế nhưng trải qua thời gian, quy luật tích tụ bắt đầu phát huy tác dụng. Địa chủ và quan lại sử dụng ưu thế về vốn, về quyền lực và cả những đợt thiên tai để thâu tóm dần đất đai của nông dân nghèo.

Và đến giai đoạn cuối triều đại, hiện tượng phú giả điển liên thiên mạch, bần giả vô lập trủy chi địa, tức là kẻ giàu rộng đất liền hàng ngàn mẫu, người nghèo thì không có mảnh đất cắm rủi, nó trở nên rất phổ biến.

Và khi mà phần lớn dân chúng mới biến thành tá điển mà không có tư liệu sản xuất lại vừa phải gánh chịu địa tô nặng nề, vừa phải chịu siêu cao thuế nặng thì chỉ cần một trận hạn hán hay mất mùa nhỏ thôi là điểm gãy lập tức xuất hiện.

Những cuộc khởi nghĩa nông dân quy mô lớn nổ ra không phải là vì họ say mê quyền lực, bạo lực mà vì đó là lựa chọn sinh tồn cuối cùng khi mà chiếc van áp suất của hệ thống đã bị hàn chết hoàn toàn.

Những tiếng nứt ngầm bên dưới chân. Quá khứ thì đã trôi qua rồi nhưng mà các quy luật vận hành của cô máy kinh tế thì nó không bao giờ thay đổi bản chất.

Ngày hôm nay trong thế giới hiện đại siêu kết nối này, điểm gãy của xã hội không nhất thiết là phải bắt đầu vào những tiếng súng lệnh hay là những cuộc tuần hành rầm rộ.

Nó biểu hiện có những cái hình thái phản kháng ngầm tinh vi nhưng mang sức tàn phá không kém đối với sự vận hành của guồng quay kinh tế.

Tại Đông Á, nơi mà các guồng máy cạnh tranh khốc liệt nhất hành tinh đang quay tít. Chúng ta cả thấy sự xuất hiện của những cái trào lưu mang tính buông xuôi có hệ thống nhé.

Ở Trung Quốc thì thuật ngữ nằm thẳng thang vinh và mặc kệ đời Pandan đã trở thành biểu tượng tinh thần của một bộ phận không nhỏ thanh niên trẻ tuổi.

Nằm thẳng thì đôi khi nó không phải là sự lừa biếng đơn thuần. Đó là một cái hình thức bãi công thẩm lặng.

Khi nhận ra rằng dù có làm việc cật lực theo văn hóa làm việc 996, tức là từ 9:00 sáng đến 9:00 tối, 6 ngày một tuần thì suốt đời họ cũng không đủ khả năng mua nổi một căn hộ ở một vài thành phố lớn.

Giới trẻ chọn cách hạ thấp mức tiêu dùng xuống mức tối thiểu sinh học. Họ không mua nhà, không mua xe, không kết hôn và không sinh con luôn.

Họ chủ động rút phức cắm ra khỏi cỗ máy tiêu dùng và sản xuất của tư bải. Còn tại Hàn Quốc, thế hệ Enpo tức là thế hệ từ bỏ n thứ đã từ bỏ việc hẹn hò, từ bỏ kết hôn, sinh con, mua nhà và thậm chí là từ bỏ các mối quan hệ xã hội luôn.

Tỷ lệ sinh của quốc gia này rơi xuống mức thấp kỷ lục thế giới. Vì chi phí cơ hội và gánh nặng tài chính để nuôi dạy một đứa trẻ trong một cấu trúc xã hội quá tải về cạnh tranh tài nguyên đã vượt qua cái ngưỡ chịu đựng sinh học.

Hành vi không tiêu dùng, không sinh con của giới trẻ Đông Á chính là một cú đánh nguội hiểm hóc nhất vào tương lai của nền kinh tế thế giới.

Một nền kinh tế dựa vào sự phình to của tín dụng và tiêu dùng sẽ sống sót thế nào nếu mà thế hệ tương lai từ chối bước vào vòng quay của chiếc cối xe đó.

Trong khi ở phương Tây thì nơi mà tính cách xã hội có xu hướng bộc nộ trực diện hơn. Những vết nứt xuất hiện dưới dạng các vụ bùng nổ bất ổn đường phố.

Hãy nhìn vào những cái đợt biểu tình và bạo loạn định kỷ tại Pháp hay là nhiều đô thị lớn ở châu Âu trong những năm gần đây. Khởi đầu thì có thể chỉ là một chính sách tăng tuổi nghỉ hưu, một vụ việc va chạm với cảnh sát hay là sự tăng nhẹ của giá xăng dầu đi.

Thế nhưng mà chỉ trong chớp mắt nhé, các cuộc biểu tình nhanh chóng biến thành những làng sóng cướp phá các trung tâm thương mại sang trọng, đập phá các cửa hàng thời trang xa xỉ.

Mấy ông trải trâu bên đấy cướp giày của Nai Kỳ, cướp đồ hiệu xong còn công khai đem đi bán lấy tiền cơ, đăng hết lên mạng xã hội để bán.

Hành vi đập phá và hôi của đó nó không thể chỉ nhìn đơn giản dưới góc nhìn của tội phạm học đâu. Ở một cái góc nhìn cấu trúc sâu xa hơn đó là sự giải phóng cơn ức chế bị dồn nén của một tầng lớp cảm thấy mình hoàn toàn bị gạt ra bên lề của sự thịnh vượng xã hội.

Khi mà các cửa kính của những cửa hàng xa xỉ bị đập vỡ, đám đông không chỉ lấy đi một món đồ vật chất, họ đang gián tiếp phá vỡ một trật tự mà họ cảm thấy mình chỉ đóng vai trò làm nền mà không bao giờ được chia phật.

Ảo ảnh của những con số GDP và thực tại cuộc sống. Đến đây thì chúng ta phải đặt ra một câu hỏi mang tính phản tư sâu sắc.

Vậy thì ý nghĩa thực sự của những chỉ số tăng trưởng kinh tế vĩ mô là gì? Hàng quý hàng năm, các bản tin tài chính và các báo cáo phân tích kinh tế vẫn công bố những con số tăng trưởng như tổng sản phẩm quốc nội GDP rất ấn tượng.

Con số tăng trưởng có thể là 4%, 6% hay thậm chí là 8%. Nhưng nếu mà chúng ta bóc tách cơ học cấu thành của những chỉ số GDP, chúng ta sẽ thấy rằng GDP chúng ta sẽ chỉ thấy rằng là GDP chỉ đo lường tổng giá trị sản phẩm quốc nội phát sinh trong nền kinh tế chứ hoàn toàn không đo lường được sức khỏe tài chính thực sự của những tế bào vi mô trong nền kinh tế đó.

GDP vẫn có thể tăng vọt khi mà giá nhà đất tăng gấp đôi. Biến giấc mơ an cư của một thế hệ thành điều bất khả thi.

Nhưng nó lại tạo ra những giá trị giao dịch bất động sản khổng lồ được ghi nhận vào sổ sách. Hay là chi phí y tế thuốc men đắt đỏ hơn, người dân cũng sẽ phải chi nhiều tiền hơn để chữa bệnh.

GDP thì vẫn ghi nhận sự gia tăng trong ngành dịch vụ chăm sóc sức khỏe. Doanh nghiệp đẩy mạnh tự động hóa, sa thải hàng vạn nhân công để cắt giảm chi phí và gia tăng lợi nhuận cho cổ đông, đẩy giá cổ phiếu tăng vọt.

Nhưng nếu mà những con người bằng xương bằng thịt dưới đáy của kim tự tháp kinh tế không còn dám mở ví để chi tiêu cho những nhu cầu tối thiểu nếu các cặp vợ chồng trẻ nhìn vào tương lai và quyết định là không sinh con vì sợ là con mình sinh ra sẽ tiếp tục gánh nợ.

Và nếu những người lao động kiệt sức không dám suy nghỉ vì sợ mất vị trí làm việc và tay của máy móc hoặc người khác thì những đồ thị GDP xanh mướt kia rốt cuộc đang phục vụ cho điều gì?

Một cỗ máy được thiết kế ra để phục vụ đời sống con người nhưng khi mà vận hành đến mức điểm cực đoan nó lại biến chính con người thành nhiên liệu đốt cháy để duy trì tốc độ quay của các bánh răng ấy.

Khi tốc độ tích tụ tài sản ở thượng tầng, tỉ lệ nghịch với sức sống của các tế bào ở hạ tầng thì cỗ máy đó nó đang tự đưa mình tiến gần hơn tới giới hạn gãy đổ cơ học.

Nền kinh tế không phải là một thực thể trừu tượng ngự chịn trên đá mây. Bản chất tối thượng của nó là sự trao đổi năng lượng và công sức giữa con người với con người.

Khi dòng năng lượng đó bị chặn đứng, khi sự cân bằng giữa cống hiến và thụ hưởng bị kéo lệch đến mức cực hạn, thị trường sẽ tự tìm cách thiết tập lại trạng thái cân bằng của nó.

Và như toàn bộ lịch sử nhân loại đã có nhiều lần chứng minh rồi, cái giá của sự tái cân bằng tự nhiên chưa bao giờ là một trải nghiệm êm ái.

Không có phép màu nào trong bài toán cân đối nợ nần. Khi nợ chạm trần, hoặc là chấp nhận lạm phát để quỵt nợ dần, hoặc là cấu trúc lại toàn bộ luật chơi.


📜 Xem toàn bộ Transcript gốc (Dữ liệu đối chiếu)

Tại sao trong một thế giới mà hàng hóa sản xuất ra dư thừa đến mức có khi còn phải hủy diệt hàng loạt thì ngoài kia vẫn có hàng triệu con người sống trong cảnh bần hàn. Lịch sử kinh tế học thì đã từng ghi nhận những cái nghịch cảnh đến mức giợn người. Trong cuộc đạ suy thoái thập niên 1930, theo đoạn luật điều chỉnh nông nghiệp năm 1933 của Mỹ, chính quyền và các chủ trang trại đã tiêu hủy hơn 6 triệu con lợn và cày sới bỏ đi hàng triệu mẫu đất cây trồng. [âm nhạc] Hàng triệu lít sữa bị nông dân tại các vùng Trung Tây đổ thẳng xuống bương rãnh hay là các kênh rạch ven biển nhằm ngăn giá sữa sụp đổ. Trong khi thì ngay trên đường phố Chicago và New York, những dòng người dài vô tận đứng xếp hàng xin từng bass loãng hay những cái thời điểm mà thị trường thịt bò châu Âu nó dư thường nghiêm trọng với hiện tượng núi thịt bò thập niên 1980 1990 khiến hàng triệu con gia súc phải đem đi tiêu hủy hoặc dồn tải bỏ đi. Đám đông thì vẫn nghĩ rằng là nhìn vào những cảnh tượng dư thừa công suất tàn khốc đó và thường buông [âm nhạc] một cái tiếng thở dài rồi kết luận rằng đấy là do năng lực sản xuất đã vượt quá nhiều của con người. Đây là một sai lầm nhận thức mang tính chất cốt tử. Cốt lõi của vấn đề chưa bao giờ nằm ở việc thế giới này làm ra quá nhiều của cả vật chất. Bản chất trần trụi và lạnh lùng hơn rất nhiều. Đấy là tiền trong túi của đại đa số người tiêu dùng đã cạn kiệt khiến họ không còn tơ cách pháp lý và [âm nhạc] tài chính để bước vào sàn giao dịch của nền kinh tế thị trường. Để hiểu được thấu đáo câu chuyện này thì chúng ta phải gạt bỏ lăng kính đạo đức, lòng trắc ẩn hay những lời ca thán đầy cảm tính đi. Nền kinh tế thị trường nó không vận hành bằng trái tim, nó vận hành [âm nhạc] như một cỗ máy cơ học tuyệt đối chuẩn xác theo những cái định luật vật lý về dòng chảy và áp suất. Bất kỳ một sự trạch hướng nào giữa cách máy móc vận hành và cách con người tưởng tượng về nó đều sẽ dẫn tới những ngộ nhận tai hại. Hãy cùng bóc tách những bánh răng, từng piston của cô máy khổng lồ này để thấy được dòng tiền thực sự đi đâu, [âm nhạc] vì sao mà cung và cầu lại lệch pha và tại sao điểm gãy của hệ thống lại là một sự tất yếu mang tính chu kỳ đã lặp đi lập lại suốt chiều dài lịch sử nhân loại. Chào mừng đến với The Hidden Self, nơi sẽ có những sự thật mà xã hội không muốn cho bạn biết. Bạn có nhận ra mình đang nghèo đi vì những thói quen sai lầm và lối tư duy tự chó chân mình? Bạn cảm thấy kiệt sức vì luôn cố làm vừa lòng người khác. Bạn đang tự làm khổ chính mình chỉ vì thiếu bản lĩnh từ chối và quản trị cuộc đời? Đừng loanh quanh với những lời khuyên đạo lý chung chung nữa. Khám phá ngay tủ sách số và audiobook thực chiến tại hệ thống Sơn Hải Nguyễn. Chỉ 15 phút nghe mỗi ngày, bạn sẽ có ngay tư duy sắc bén để xử lý gọn gàng từng góc khuất đời thường và công sở. Đặc biệt không chỉ dừng lại ở sách sơnguyen.com còn là một hệ sinh thái toàn diện đổi tư duy làm chủ cộ đời với chi phí siêu tiết kiệm. Truy cập ngay Sơnuyen.com để khám phá thêm kho cụ và tài liệu hỗ trợ cho công việc, nâng cao kỹ năng làm việc của bạn, ảo ảnh của thị trường khi mong muốn không phải là nhu cầu. Trong sách giáo khoa kinh tế học nhập môn ấy, người ta thường dạy sinh viên một khái niệm về cung và cầu như hai cái đường chéo nhau, gặp nhau tại một điểm giao cắt hoàn hảo được gọi là điểm cân bằng thị trường. Mô hình này thì nó rất là gọn gàng và tạo ra một cái cảm giác an tâm rằng cái bàn tay vô hình nó sẽ luôn tự điều chỉnh mọi thứ về trạng thái tối ưu. Nhưng mà thực tế vận hành ngoài đời thực thì lại bỏ quên một cái chi tiết mang tính quyết định đấy là khái niệm cầu trong kinh tế học tư bản. Nó không đồng nghĩa với mong muốn hay là sự khao khát sinh học của con người đâu. Cầu trong kinh tế học nó là cầu có khả năng thanh toán. Luật chơi của thị trường rất sòng phẳng và không có chỗ cho sự thương hại. Bạn có thể thèm khát một bữa ăn ngon. Bạn có thể tuyệt vọng cần một cái mái nhà che mưa che nắng. Bạn có thể ao ước một chiếc xe hơi để đi làm đỡ mưa đỡ gió. Thế nhưng mà nếu trong túi bạn không có đủ tiền để chi trả cho một cái mức giá niêm yết thì sự thèm khát đó đối với hệ thống kinh tế hoàn toàn bằng không vô nghĩa. Nó không tồn tại trên bảng cân đối kế toán. Nó không xuất hiện trong hệ thống tính tiền và các thuật toán thị trường sẽ coi bạn như một thực thể vô hình. Hãy lấy ví dụ cụ thể để hình dung về quy luật này nhé. Giả sử cho một xã hội có 1 triệu người đang khao khát sở hữu một chiếc ô tô để phục vụ nhu cầu đi lại căn bản. Một tổ hợp nhà máy hiện đại được xây dựng và sản xuất ra 100.000 chiếc xe. Nếu tính thuần túy theo logic nhu cầu con người, thị trường đang thiếu hàng nghiêm trọng. 1 triệu người tranh nhau 100.000 chiếc xe. Có nghĩa là cầu vượt cung gấp 10 lần. Nhưng trong thực tế nếu phân bổ thu nhập của xã hội đó bị lệch đến mức mà trong 1 triệu người kia chỉ có đúng 10.000 ngàn người có đủ khả năng tài chính để trả tiền mua xe thì điều gì sẽ xảy ra? 90.000 chiếc xe còn lại lập tức bị vứt xó ngoài bãi phế liệu hoặc là nằm phủ bụi trong các kho bãi mênh mông. Hiện tượng đó được gọi bằng một thuật ngữ hoa mỹ đấy là dư thừa công suất. Nó không sinh ra bởi vì là người đã no đủ phương tiện di chuyển mà nó sinh ra là vì 990.000 con người còn lại không đủ sức mua để biến ước muốn của mình thành một lệnh giao dịch hợp đệ. Hàng hóa ế ầm nằm cạnh những cái ánh mắt thèm thuồng nhưng bất lực. Đó là nghịch lý cơ bản đầu tiên của cơ chế thị trường. Năng lực sản xuất được thúc đẩy bởi công nghệ có thể thăng tiến không giới hạn, nhưng mà sức mua của số đông lại bị giới hạn bởi cấu trúc phân phối thu nhập, giải mã dòng tiền, nghịch lý thanh khoản và cái chết lâm sàng của vận tốc. Khi chứng kiến cảnh hàng quán vắng vẻ, công nhân giảm giờ làng, người trẻ thắt chặt hầu bao thì câu hỏi tự nhiên hiện lên trong đầu của nhiều người đấy là có phải thế giới đang thiếu tiền không? Thì câu trả lời chắc chắn là không. Nếu nhìn vào bảng cân đối kế toán của các ngân hàng trung ương lớn trên toàn cầu trong suốt hai thập kỷ vừa qua, đặc biệt là sau những đợt nới lỏng định lượng quy mô chưa từng có thì bất kỳ ai cũng phải thừa nhận một thực tế đấy là tiền tệ trên thị trường chưa bao giờ dồi rào tới như vậy. Hàng nghìn tỷ đô la, euro, yên hay là nhân dân tệ đã được tạo ra tử hư không thông qua những cú crích chuột trên hệ thống ngân hàng. Thị trường tài chính ngập ngộ trong thanh khoản. Vậy thì tại sao đám đông ngoài phố vẫn cảm thấy chiếc ví của mình luôn trống rỗng? Để giải thích cho hiện tượng này, chúng ta cần phải nhìn vào phương trình tiền tệ kinh điển như sau. M nh b= p I. Trong đó thì M là khối lượng tiền, V là vận tốc lưu thông tiền tệ, P là mức giá cả và I là sản lượng thực tế. Vấn đề sống còn nằm ở chữ V, tốc độ luân chuyển của dòng tiền. Một đồng tiền chỉ thực sự tạo ra sự thịnh vượng cho nền kinh tế khi mà nó được truyền từ tay người này sang tay người khác với tốc độ nhanh. Hãy hình dung một chu chỗa giao dịch đơn giản thế này. Một người công nhân lương 10 đồng. Anh ta lập tức mang 5 đồng đi mua bánh mì. Người làm bánh mì dùng 5 đồng đó để mua bột mì của nông dân. Người nông dân thì mang số tiền đó đi sửa chiếc máy cày. Người thợ máy cày thì lại dùng số tiền đó để mua quần áo cho con. Tức là một đồng tiền danh nghĩa trại qua năm bàn tay đã tạo ra giá trị giao dịch gấp năm lần và nuôi sống nhiều gia đình. Nhưng mà hiện nay thì cái chữ V đó, cái vận tốc đấy nó đang có vấn đề. Tiền sau khi được bơm ra từ các ngân hàng trung ương chưa chảy đều vào các mao mạch của nền kinh tế thực. Nó chưa chảy vào túi của những người lao động phổ thông. Những người có khuynh hướng tiêu dùng cận biên rất cao. Nghĩa là có 10 đồng thì sẽ tiêu gần hết cả 10 đồng để mà trang trải cuộc sống. Thay vào đó thì dòng tiền khổng lồ này lại chảy thẳng vào các tầng lớp trên cùng của phễ kinh tế thông qua hệ thống tín dụng và tài sản đảm bảo. Bản chất của tích tụ vốn, tốc độ của lợi nhuận và sự kiệt quệ của sức mua. Ở đây thì chúng ta sẽ chạm tới một định luật căn bản đã được nhà kinh tế học Thomas Piketti khái quát có công thức là R lớn hơn G. Trong đó thì R là tỉ suất sinh lời từ vốn, tức là bao gồm lợi nhuận đầu tư, cổ tức, tiền thuê đất, lãi suất vân vân. Còn G là tốc độ tăng trưởng của toàn bộ nền kinh tế vốn gắn liền chặt chẽ với tốc độ tăng lương của những người lao động bình thường. Trong một cấu trúc kinh tế tư bản vận hành tự nhiên mà không có sự can thiệp, tái cân bằng đủ mạnh ấ thì R nó sẽ luôn có xu hướng lớn hơn G. Tức là những người nắm giữ tài sản cốt lõi, nắm tư liệu sản xuất và công nghệ tinh hoa sẽ luôn có khả năng tích lũy của cải tài sản với tốc độ nhanh hơn rất nhiều lần so với tốc độ của những người bán sức lao động có thể tích lũy từ đồng lương của mình. Đây không phải là vấn đề tốt hay xấu về mặt đạo đức nhé. Nó là thuần túy về tính chất tự tích lũy của tư bản. Giống như là một vật thể có khối lượng càng lớn trong vũ trụ thì cái lực hấp dẫn của nó lại càng mạnh vậy. Một khối tài sản càng lớn thì cái khả năng thu hút các nguồn lực xung quanh về phía nó lại càng cao. Khi mà lượng tiền mặt khổng lồ đó được hút sạch về phía nhóm tinh hoa sở hữu vốn thì họ sẽ làm gì với cái số tiền đó? Họ không thể ăn thêm 1000 bữa mỗi ngày, cũng không thể mặc cùng lúc 1000 bộ quần áo. Nhu cầu tiêu dùng hàng hóa cơ bản của một cá nhân dù giàu có tới mức nào thì cũng có giới hạn sinh học tự nhiên. Do đó thì dòng tiền thặng dư này nó không biến thành sức mua trong nền kinh tế thực. Họ sẽ đổ số tiền đó vào việc gom thêm các tài sản tài nguyên cốt lõi có tính khan hiếm cao. Giả dụ như là bất động sản đắc điệu, cổ phần chi phố các tập đoàn độc quyền hay là quyền khai thác tài nguyên thiên nhiên, các công cụ tài chính phái sinh vân vân. Hành vi gom thu này nó sẽ tạo ra một cái hệ quả kép mang tính chất bóp nghẹt. Thứ nhất, [âm nhạc] kiểu gì nó cũng sẽ thổi bùng bong bóng tài sản. giá nhà đất, chi phí mặt bằng kinh doanh, chi phí y tế, giáo dục, năng lượng sẽ bị đẩy lên những cái tầng mây cao hơn. Thứ hai đấy là khi mà giá tài sản tăng phi mã, chi phí sinh hoạt tối thiểu của một công dân bình thường trong xã hội cũng sẽ tăng lên, tiền thuê nhà tăng, tiền ăn uống tăng, tiền bảo hiểm cũng tăng vân vân. Vậy thì kết quả là gì? Đó là chi phí sống của đại đao số người dân sẽ tăng lên. Trong khi thu nhập thực tế, sau khi trừ đi lạ phát, tài sản ấ thì vẫn sẽ dậm chân tại chỗ hoặc là suy giảm. Tỉ lệ thu nhập khả dụng tức là số tiền nhàn dỗi mà một cá nhân có toàn quyền chi tiêu cho các nhu cầu tiêu dùng tùy chọn nó sẽ co cụm lại chỉ còn là một cái phần rất nhỏ và sức mua của toàn xã hội sẽ bị rút cạn một cách êm đềm nhưng rất triệt để bẫy thu hẹp và cuộc đào thải bắt buộc và khi mà chiếc ví của số đông sẽ cạn kiệt đi, các tế bào cơ sở của nền kinh tế bắt đầu phát tín hiệu cấp cứu. Một xã hội mà từ người làm công ăn lương, tài xế công nghệ cho tất cả nhân viên văn phòng đều phải thắt lưng bộc bụng, cân nhắc từng đồng bạc khi bước vào siêu thị thì doanh nghiệp sản xuất sẽ bán hàng cho ai? Doanh số bán lẻ sẽ tụt dốc, hàng tồn kho sẽ chất cao như núi trong kho bãi. Lợi nhận của các doanh nghiệp kinh doanh hàng hóa thông thường sẽ cắn đầu lao dốc không phanh. Và để sinh tồn trong một bố cảnh dòng tiền bị thu hẹp thì bản năng tự vệ đầu tiên của bất kỳ một nhà quản trị doanh nghiệp nào cũng sẽ là cắt giảm chi phí vận hành. Vậy thì những cái biện pháp cắt giảm đó là gì? Thứ nhất, dễ nhất đấy là sa thả nhân sự hàng loạt để giảm quỹ lương. Thứ hai, sẽ tiếp tục đóng băng các kế hoạch tuyển dụng mới, cắt giảm tiền thưởng phúc lợi. Và thứ ba, thường thảo kéo dài thời gian thanh toán nợ với các nhà cung cấp dưới. Và đây chính là lúc mà chiếc bẫy cầu trúc sẽ sập xuống. Cái hành động sang thải và giảm lương nhằm cứu vãn lợi nhuận của từng doanh nghiệp riêng lẻ lại dáng thêm một cái đòn chí mạng nữa vào tổng cầu của toàn bộ nền kinh tế. Người công nhân bị mất việc ngày hôm nay [âm nhạc] chính là người tiêu dùng biến mất vào ngày mai. Thu nhập của người này là chi tiêu của người khác. Khi hàng triệu con người cùng lúc mất thu nhập, doanh số của các doanh nghiệp khác lại tiếp tục rơi tự do. Và cứ như vậy thì một cái vòng xoáy giảm phát ác tính được kích hoạt. Sức mua giảm dẫn tới doanh nghiệp cắt giảm nhân sự. Cắt giảm nhân sự là khiến cho sức mua tiếp tục suy kiệt. Sức mua suy kiệt là đẩy thêm nhiều doanh nghiệp bên bờ vực phá sản. Để trì hoãn thời khắc sụp đổ, hệ thống thường sử dụng đến liều thuốc giảm đau quen thuộc, đấy là tín dụng tiêu dùng. Tức là khi mà tiền lương không đủ sống, người ta được khuyến khích quẹt thẻ tín dụng, vay trả góp, vay mua nhà với lã suất ưu đãi. [âm nhạc] Thế nhưng mà nợ thực chất nó chỉ là việc vay mượn sức mua của tương lai để tiêu xà cho hiện tại thôi. Đến một thời điểm nhất định, khi mà tỉ lệ trả nợ trên thu nhập vượt quá ngưỡng chịu đựng, quả cầu tuyết nợ nần nó sẽ phình to tới mức không thể lăn tiếp được nữa. Lúc này thì hệ thống sẽ bắt buộc phải trải qua một cái cuộc thanh trừng tàn bạo mang tên là tái cân bằng sự hủy diệt. Những doanh nghiệp yếu kém sẽ bị đào thải. Các dây chuyền sản xuất thì sẽ bị phá dỡ, bán sắt vụn. Công ty tuyên bố phá sản để xóa nợ. Thị trường dùng chính sự đau đớn của việc xóa sổ năng lực sản xuất dư thừa để ép cung tụt xuống bằng với mức cầu đã bị tổn thương nghiêm trọng. Ẩn ý về điểm gãy khi khoảng cách trở thành vết nứt địa chấn. Bất kỳ một cái hệ thống vật lý nào khi mà bị kéo căng quá mức tại một điểm mà không có sự giải tỏa áp lực thì đều sẽ xuất hiện một điểm gãy cấu trúc. Trong cơ học của xã hội, điểm gãy xuất hiện khi mà dòng chảy của cải bị tắc nghẽn hoàn toàn ở một cực. Trong khi cực còn lại sẽ rơi vào trạng thái chân không tuyệt đối. Bạn hình dung một cái đồng hồ cát nhá. Để thời gian có thể trôi và cỗ máy tiếp tục hoạt động, cát từ bầu trên phải giơ xuống bầu dưới. Rồi sau đó thì chiếc đồng hồ nó sẽ phải lật ngược lại để dòng chảy tiếp diễn tuần hoàn. Thế nhưng mà nếu cái eo của chiếc đồng hồ cát bị bịt kín bởi một cái lớp mảng ngăn hoặc là toàn bộ cát bị giữ lại ở một phần đỉnh mà không cách nào để có thể tuần hoàn trở lại đáy thì cỗ máy nó sẽ đứng im vĩnh viễn. Sự chênh lệch giữa lượng tích tụ tài nguyên ở nhóm thiểu số và khả năng tiếp cận sinh kế của số đông không đơn thuần là một câu chuyện về con số thống kê hay là hệ số jini. ẩn ý đằng sau sâu xa cái sự chênh lệch đó chính là sự đứt gãy của giao ước ngầm trong tổ chức xã hội. Xã hội là người chấp nhận trật tự phân chia lao động và sở hữu tư nhân dựa trên một cái tiền đề bất thành văn. Đấy là nếu một cá nhân nỗ lực lao động, tuôn thủ luật chơi và cống hiến sức lực trí tuệ thì họ sẽ đổi lại được một mức sống tối thiểu tương xứng đủ để duy trì gia đình, sinh con và có hy vọng vào một tương lai tốt đẹp hơn cho thế hệ kế tiếp. Thế nhưng mà khi mà tỉ lệ phân bổ của cải bị lệch tới mức mà một người lao động bình thường làm việc kiệt sức 10 tiếng mỗi ngày mà vẫn không thể mua nổi một căn hộ nhỏ thì không đủ trang tiền trang trải viện phí khi ốm đau và không nhìn thấy bất kỳ một cái cánh cửa thăng tiến nào thì cái giao ước ngầm đó coi như sẽ bị phá vỡ và khi mà sự phân cực đạt tới giới hạn trịu tải của kết cấu xã hội, điểm gãy sẽ xuất hiện. Khủng hoảng kinh tế khi đó nó không còn gói gọn trên bản điện tử của thị trường chứng khoán nữa mà có thể nó sẽ biến dạng thành khủng hoảng toàn diện có thể là về thể chế, về trật tự và cả sự ổn định. Bài học từ lịch sử những chu kỳ giải phóng áp suất tàn khốc. Lịch sử loài người thì nó chưa bao giờ thiếu những các bài học cảnh báo về thời khắc điểm gãy này xuất hiện. Mỗi khi mà dòng chảy tài nguyên dồn ứ tới mức nghẹt thở, hệ thống sẽ luôn tìm cách tự giải phóng áp suất của nó và cái giá phải trả thường vô cùng đắt. Hãy nhìn lại thời kỳ đại suy thoái những năm 293 tại Mỹ và phương Tây. Đó chính là thời điểm đỉnh cao của sự dư thừa công suất. Các nhà máy thép hoạt động hết công suất. C nông trạng bội thu nông sản. Thế nhưng nghịch lý là gì? Người ta đã đổ hàng nghìn lít sữa xuống lòng sông Mississippi đốt cháy những cái cánh đồng lúa mỉ ngút ngàn để nó giữ cái nguồn cung tức là giữ cái giá hàng hóa không bị sập xuống ấy. Trong khi nghe trên đường phố Chicago và New York, những dòng người dài vô tận xếp hàng trong giá rét chỉ để x một cái mẩu bánh mỉ mốc và một bát sub loãng từ các bếp ăn tử thiện. Sự sụp đổ sức mua đã biến một cuộc khủng hoảng tài chính đơn thuần thành một cơn địa chấn kinh tế kéo dài cả thập kỷ. Hậu quả của cuộc đạo suy thoái đó không dừng lại ở những vụ nhảy lầu của các nhà đầu tư Phố World. Sự cùng quẫn về kinh tế và cảm giác bị tước đoạt của tầng lớp bình dân tại châu Âu đã tạo ra mảnh đất màu mỡ cho các chủ nghĩa cực đoan chỗ dậy. Khi một thế hệ thanh niên không có việc làm, không có tương lai và không có tài sản, họ trở thành chất dẫn lửa hoàn hảo cho những cái lời hiệu triệu dân túy và quân phiệt. Chủ nghĩa phá đã tìm thấy nguồn năng lượng nuôi dưỡng chính từ cái sự tuyệt vọng kinh tế của đám đông. Và kết cục tất yếu là ngọn lửa thế chiến thứ hai bùng cháy dữ dội, thiêu dụi toàn bộ lục địa già để rồi sau đó một trật tự kinh tế mới buộc phải tá lập lại từ đống cho tàn. Nhìn xa hơn về phương đông, trong suốt hàng ngàn năm phong kiến, mô hình sụp đổ của các triều đại cũng tuân theo đúng một kịch bản cơ học như vậy. Ở giai đoạn đầu của một vương triều mới, ruộng đất được chia tương đối đồng đều cho nông dân tự canh, kinh tế phát triển, xã hội phuồn vinh. Thế nhưng trải qua thời gian, quy luật tích tụ bắt đầu phát huy tác dụng. Địa chủ và quan lại sử dụng ưu thế về vốn, về quyền lực và cả những đợt thiên tai để thâu tóm dần đất đai của nông dân nghèo. Và đến giai đoạn cuối triều đại, hiện tượng phú giả điển liên thiên mạch, bần giả vô lập trủy chi địa, tức là kẻ giàu rộng đất liền hàng ngàn mẫu, người nghèo thì không có mảnh đất cắm rủi, nó trở nên rất phổ biến. Và khi mà phần lớn dân chúng mới biến thành tá điển mà không có tư liệu sản xuất lại vừa phải gánh chịu địa tô nặng nề, vừa phải chịu siêu cao thuế nặng thì chỉ cần một trận hạn hán hay mất mùa nhỏ thôi là điểm gãy lập tức xuất hiện. Những cuộc khởi nghĩa nông dân quy mô lớn nổ ra không phải là vì họ say mê quyền lực, bạo lực mà vì đó là lựa chọn sinh tồn cuối cùng khi mà chiếc van áp suất của hệ thống đã bị hàn chết hoàn toàn. Những tiếng nứt ngầm bên dưới chân. Quá khứ thì đã trôi qua rồi nhưng mà các quy luật vận hành của cô máy kinh tế thì nó không bao giờ thay đổi bản chất. Ngày hôm nay trong thế giới hiện đại siêu kết nối này, điểm gãy của xã hội không nhất thiết là phải bắt đầu vào những tiếng súng lệnh hay là những cuộc tuần hành rầm rộ. Nó biểu hiện có những cái hình thái phản kháng ngầm tinh vi [âm nhạc] nhưng mang sức tàn phá không kém đối với sự vận hành của guồng quay kinh tế. Tại Đông Á, nơi mà các guồng máy cạnh tranh khốc liệt nhất hành tinh đang quay tít. Chúng ta cả thấy sự xuất hiện của những cái trào lưu mang tính buông xuôi có hệ thống nhé. Ở Trung Quốc thì thuật ngữ nằm thẳng thang vinh và mặc kệ đời Pandan đã trở thành biểu tượng tinh thần của một bộ phận không nhỏ thanh niên trẻ tuổi. Nằm thẳng thì đôi khi nó không phải là sự lừa biếng đơn thuần. Đó là một cái hình thức bãi công thẩm lặng. Khi nhận ra rằng dù có làm việc cật lực theo văn hóa làm việc 996, tức là từ 9:00 sáng đến 9:00 tối, 6 ngày một tuần thì suốt đời họ cũng không đủ khả năng mua nổi một căn hộ ở một vài thành phố lớn. Giới trẻ chọn cách hạ thấp mức tiêu dùng xuống mức tối thiểu sinh học. Họ không mua nhà, không mua xe, không kết hôn và không sinh con luôn. Họ chủ động rút phức cắm ra khỏi cỗ máy tiêu dùng và sản xuất của tư bải. Còn tại Hàn Quốc, thế hệ Enpo tức là thế hệ từ bỏ n thứ đã từ bỏ việc hẹn hò, từ bỏ kết hôn, sinh con, mua nhà và thậm chí là từ bỏ các mối quan hệ xã hội luôn. Tỷ lệ sinh của quốc gia này rơi xuống mức thấp kỷ lục thế giới. Không phải là vì người dân ghét bỏ trẻ em đâu mà là vì chi phí cơ hội và gánh nặng tài chính để nuôi dạy một đứa trẻ trong một cấu trúc xã hội quá tải về cạnh tranh tài nguyên đã vượt qua cái ngưỡ chịu đựng sinh học. Hành vi không tiêu dùng, không sinh con của giới trẻ Đông Á chính là một cú đánh nguội hiểm hóc nhất vào tương lai của nền kinh tế thế giới. Một nền kinh tế dựa vào sự phình to của tín dụng và tiêu dùng sẽ sống sót thế nào nếu mà thế hệ tương lai từ chối bước vào vòng quay của chiếc cối xe đó. Trong khi ở phương Tây thì nơi mà tính cách xã hội có xu hướng bộc nộ trực diện hơn. Những vết nứt xuất hiện dưới dạng các vụ bùng nổ bất ổn đường phố. Hãy nhìn vào những cái đợt biểu tình và bạo loạn định kỷ tại Pháp hay là nhiều đô thị lớn ở châu Âu trong những năm gần đây. Khởi đầu thì có thể chỉ là một chính sách tăng tuổi nghỉ hưu, một vụ việc va chạm với cảnh sát hay là sự tăng nhẹ của giá xăng dầu đi. Thế nhưng mà chỉ trong chớp mắt nhé, các cuộc biểu tình nhanh chóng biến thành những làng sóng cướp phá các trung tâm thương mại sang trọng, đập phá các cửa hàng thời trang xa xỉ. Mấy ông trải trâu bên đấy cướp giày của Nai Kỳ, cướp đồ hiệu xong còn công khai đem đi bán lấy tiền cơ, đăng hết lên mạng xã hội để bán. Hành vi đập phá và hôi của đó nó không thể chỉ nhìn đơn giản dưới góc nhìn của tội phạm học đâu. Ở một cái góc nhìn cấu trúc sâu xa hơn đó là sự giải phóng cơn ức chế bị dồn nén của một tầng lớp cảm thấy mình hoàn toàn bị gạt ra bên lề của sự thịnh vượng xã hội. Khi mà các cửa kính của những cửa hàng xa xỉ bị đập vỡ, đám đông không chỉ lấy đi một món đồ vật chất, họ đang gián tiếp phá vỡ một trật tự mà họ cảm thấy mình chỉ đóng vai trò làm nền mà không bao giờ được chia phật. ảo ảnh của những con số GDP và thực tại cuộc sống. Đến đây thì chúng ta phải đặt ra một câu hỏi mang tính phản tư sâu sắc. Vậy thì ý nghĩa thực sự của những chỉ số tăng trưởng kinh tế vĩ mô là gì? Hàng quý hàng năm, các bản tin tài chính và các báo cáo phân tích kinh tế vẫn công bố những con số tăng trưởng như tổng sản phẩm quốc nội GDP rất ấn tượng. Con số tăng trưởng có thể là 4%, 6% hay thậm chí là 8%. Nhưng nếu mà chúng ta bóc tách cơ học cấu thành của những chỉ số GDP, chúng ta sẽ thấy rằng GDP chúng ta sẽ chỉ thấy rằng là GDP chỉ đo lường tổng giá trị sản phẩm quốc nội phát sinh trong nền kinh tế chứ hoàn toàn không đo lường được sức khỏe tài chính thực sự của những tế bào vi mô trong nền kinh tế đó. GDP vẫn có thể tăng vọt khi mà giá nhà đất tăng gấp đôi. Biến giấc mơ an cư của một thế hệ thành điều bất khả thi. Nhưng nó lại tạo ra những giá trị giao dịch bất động sản khổng lồ được ghi nhận vào sổ sách. Hay là chi phí y tế thuốc men đắt đỏ hơn, người dân cũng sẽ phải chi nhiều tiền hơn để chữa bệnh. GDP thì vẫn ghi nhận sự gia tăng trong ngành dịch vụ chăm sóc sức khỏe. Doanh nghiệp đẩy mạnh tự động hóa, sa thải hàng vạn nhân công để cắt giảm chi phí và gia tăng lợi nhuận cho cổ đông, đẩy giá cổ phiếu tăng vọt. Nhưng nếu mà những con người bằng xương bằng thịt dưới đáy của kim tự tháp kinh tế không còn dám mở ví để chi tiêu cho những nhu cầu tối thiểu nếu các cặp vợ chồng trẻ nhìn vào tương lai và quyết định là không sinh con vì sợ là con mình sinh ra sẽ tiếp tục gánh nợ. Và nếu những người lao động kiệt sức không dám suy nghỉ vì sợ mất vị trí làm việc và tay của máy móc hoặc người khác thì những đồ thị GDP xanh mướt kia rốt cuộc đang phục vụ cho điều gì? Một cỗ máy được thiết kế ra để phục vụ đời sống con người nhưng khi mà vận hành đến mức điểm cực đoan nó lại biến chính con người thành nhiên liệu đốt cháy để duy trì tốc độ quay của các bánh răng ấy. Khi tốc độ tích tụ tài sản ở thượng tầng, tỉ lệ nghịch với sức sống của các tế bào ở hạ tầng thì cỗ máy đó nó đang tự đưa mình tiến gần hơn tới giới hạn gãy đổ cơ học. Nền kinh tế không phải là một thực thể trừu tượng ngự chịn trên đá mây. Bản chất tối thượng của nó là sự trao đổi năng lượng và công sức giữa con người với con người. Khi dòng năng lượng đó bị chặn đứng, khi sự cân bằng giữa cống hiến và thụ hưởng bị kéo lệch đến mức cực hạn, thị trường sẽ tự tìm cách thiết tập lại trạng thái cân bằng của nó. Và như toàn bộ lịch sử nhân loại đã có nhiều lần chứng minh rồi, cái giá của sự tái cân bằng tự nhiên chưa bao giờ là một trải nghiệm êm ái.